Sunday, June 2, 2013

Canxi và Phospho trong thức ăn thủy sản

Ca và P cần thiết cho quá trình hình thành xương. Trong xương cá Ca chiếm tỉ lệ cao. Ở vảy cá rô phi hàm lượng Ca cũng chiếm đến 19 – 21%. Hàm lượng Ca trong một số loài cá giảm khi sinh sản và thức ăn thiếu Ca, điều này cho thấy Ca được hấp thu từ vảy cho các hoạt động sinh lí. Tỉ lệ Ca:P ở vảy và xương cá là 1.5 – 2.1 và tỉ lệ Ca:P cả cơ thể là 0.7 – 1.6. ngoài vai trò cấu trúc cơ bản của xương, Ca còn tham gia vào quá trình đông máu, co cơ, dẫn truyền thông tin thần kinh, duy trì áp suất thẩm thấu.

Tương tự như Ca, P thường tồn tại ở dạng kết hợp với hợp chất khác trong mô xương cá. Hàm lượng P trong bộ xương cá chiếm khoảng 15% và 0.2 – 0.8% trong cơ thịt cá. P có vai trò trong quá trình biến dưỡng các chất dinh dưỡng trong cơ thể. P là chất cấu thành hợp chất cao năng Adenosine triphosphate (ATP), Phospholipid, AND, ARN và một số coenzyme. Vì vậy P tham gia vào quá trình trao đổi năng lượng, điều khiển sinh sản, sinh trưởng… Phospho tham gia vào việc duy trì ổn định pH trong cơ thể ĐVTS.

Đối với động vật trên cạn, Ca được lấy từ thức ăn, tuy nhiên ở ĐVTS đặc biệt là động vật biển có khả năng hấp thu Ca từ việc uống nước hoặc hấp thu qua mang, da. Cá biển hấp thu một lượng khoáng rất lớn từ nước biển như: Ca, Na, Cl, Mg, nhưng rất ít P. Hàm lượng Ca hấp thu được ở cá biển khoảng 40 – 52% so với lượng cung cấp từ thức ăn. Trái lại cá nước ngọt hầu như không lấy được Ca từ môi trường vì chúng ít uống nước. Khi hàm lượng P trong nước biển thấp (ít hơn 0.1 mg/l) lượng P mà cá lấy được từ nước biển chỉ khoảng 1% so với lượng P lấy từ thức ăn.

Nhu vậy sự hấp thu Ca có thể được cá tự điều chỉnh thông qua sự gia tăng hấp thu từ môi trường nước chỉ khi nào nước quá mềm và thức ăn không cung cấp đủ Ca thì vấn đề thiếu hụt Ca mới xảy ra. Do đó, nhu cầu Ca của cá ít được chú ý, tuy nhiên cá được nuôi trong môi trường nước thật mềm lượng Ca trong thức ăn cũng cần được lưu ý vì hàm lượng Ca trong thức ăn thấp sẽ ảnh hưởng đến sự tăng trưởng.

Trái ngược với Ca, P hầu như được lấy chủ yếu từ thức ăn, tỉ lệ P hấp thu từ môi trường nước rất thấp, chỉ đạt 1/40 so với Ca. Lượng P hấp thu từ môi trường nước lệ thuộc vào nhiều yếu tố môi trường, hàm lượng Ca trong nước và giống loài thủy sản.

Dấu hiệu thiếu P chủ yếu là giảm sinh trưởng, hiêu quả sử dụng thức ăn và khoáng trong xương, vảy, vỏ. Ngoài ra, ở cá chép còn có dấu hiệu tăng hàm lượng mỡ, giảm lượng nước trong cơ thể và lượng P trong máu.

Các dạng Caxi và Phospho động vật thủy sản có thể sử dụng

Khả năng sử dụng và hấp thu Ca phụ thuộc vào dạng và hàm lượng Ca, hàm lượng P, thành phần của thức ăn và cấu trúc hệ thống tiêu hóa của ĐVTS. Ở cá chép khi hàm lượng Ca trong thức ăn là 0.68% thì cá có thể hấp thu được 58% dạng calcium lactate, 37% dạng tribasic calcium phosphate và 27% dạng calcium carbonate. Khả năng hấp thu Ca của ĐVTS tăng khi sử dụng dạng Ca hòa tan. Khả năng hấp thu Ca sẽ giảm 20 – 34% khi hàm lượng P tăng cao trong thức ăn.

Nguồn cung cấp Ca chính trong thức ăn là nguyên liệu có nguồn gốc động vật như bột cá. Trong cơ thể cá, hàm lượng Ca cao nhất ở bộ khung xương (>30%) và vảy (>80%). Ca ở vảy cá là sự tích lũy Ca tạm thời và không bền. Trong cơ thịt cá hàm lượng Ca dao động từ 0.02 – 0.5% khối lượng. Ca cũng có ảnh hưởng đến các thành phần dinh dưỡng khác như Vitamin D, Mg, Zn.

Giống như Ca, hiệu quả sử dụng và hấp thu P phụ thuộc vào dạng P được sử dụng, hàm lượng Ca và loài cá. Lượng Ca trong thức ăn ảnh hưởng lớn đến sự hấp thu P trong nước và thức ăn. Khả năng hấp thu P phu thuộc vào dạng của P. Dạng monophosphate Na và Monophosphate K là dạng muối khoáng được sử dụng hiệu quả nhất đối với cá chép, rô phi, cá da trơn và cá hồi. Khả năng sử dụng hỗn hợp calcium phosphate biến động rất lớn. Dạng Monobasic calcium phosphate được sử dụng hiệu quả nhất trong khi dạng dibasic và tribasic thì ít hiệu quả hơn. Tuy nhiên, khả năng sử dụng các dạng P cũng thay đổi tùy theo loài. P trong bột cá có hiệu quả sử dụng đối với cá khoảng 40%. P torng casein và men được sử dụng rất tốt bởi cá chép, cá da trơn. Đối với P của thực vật hầu như ĐVTS không sử dụng hoặc hiệu quả sử dụng rất kém. P từ bột đậu nành do tồn tại chủ yếu dưới dạng acid phytic, nên cá chỉ sử dụng được 29 – 54%.

Tỉ lệ Ca:P đã được đề nghị cho một số loài như 0.56:1.1 cho tôm hùm, 1:1 cho tôm he Nhật Bản, 1:1 hoặc 1:1.5 ở tôm sú. Mức Ca tối đa trong thức ăn tôm là 2.3%, mức P từ 1 – 2%. Ở cá, mức P được đề nghị là 0.29 – 0.8% tùy thuộc vào loài và dạng P sử dụng.

Bảng: Giá trị sử dụng của các nguồn Phospho đối với tôm cá
Dạng sử dụng
Cá da trơn
Cá chép
Tôm thẻ chân trắng
94%
94%
46.5%
65%
46%
19.4%

13%
9.9%


68%


68.2%

Nguồn: Dinh Dưỡng Và Thức Ăn Thủy Sản (NXB NN, 2009)

Tuesday, May 21, 2013

Các chất oxy hóa tăng cường chất lượng nước

Các chất oxy hóa được sử dụng trong nuôi trồng thủy sản có tác dụng khử trùng hoặc để tăng cường chất lượng nước. Hydrogen peroxide (H2O2 – oxy già) và sodium carbonate peroxyhydrate (Na2CO3·1.5H2O2) có thể dùng làm nguồn cung cấp oxy hòa tan trong các trường hợp khẩn cấp khi không thể có được sục khí cơ học. Sodium nitrate (Na2NO3) và calcium peroxide (CaO2) có thể được sử dụng như là các chất oxy hóa bùn lắng. Khi được sử dụng đúng hàm lượng, các hợp chất peroxide an toàn về môi trường, bởi vì chúng tan thành nước, oxy phân tử, ion sodium (Na+) hoặc calcium (Ca2+) và bicarnonate (HCO3-). Sodium nitrate cũng có thể không gây ra các vấn đề môi trường.


Tiến sĩ Claude E. Boyd
Khoa Thủy sản và liên minh nuôi trồng thủy sản - Đại học Auburn – Auburn, Alabama 36849 USA


Một số chất oxy hóa được sử dụng trong nuôi trồng thủy sản bao gồm hợp chất chlorine như là calcium hypochlorite [Ca(OCl)2], potassium permanganate (KMnO4), hydrogen peroxide (H2O2) sodium carbonate peroxyhydrate (Na2CO3·1.5H2O2), calcium peroxide (CaO2) và sodium nitrate (Na2NO3).

Các hợp chất chlorin này được dùng chủ yếu để khử trùng. Potassium permanganate và hợp chất peroxide được dùng để khử trùng và điều trị nhiễm khuẩn và nấm bên ngoài trên trứng và cá, thường ở các trại ương giống, nhưng đôi khi cũng dùng trong các ao nuôi. Potassium permanganate, hợp chất peroxide và sodium nitrate cũng thỉnh thoảng được dùng để tăng cường chất lượng nước.

Potassium Permanganate (KMnO4)

Potassium permanganate đang được quảng bá là một phương pháp oxy hóa chất hữu cơ trong các ao và nhờ đó giảm nhu cầu oxy và tăng hàm lượng oxy hòa tan. Tuy nhiên, nghiên cứu thực hiện tại Đại học Auburn và các trạm nghiên cứu khác nhận thấy rằng xử lý bằng potassium permanganate thường diệt thực vật phù du và có thể trên thực tế dẫn đến hàm lượng oxy hòa tan thấp hơn.
Trong các điều kiện nhất định, potassium permanganate có thể được dùng để khử hydrogen sulfate và sắt (Fe2+) từ các nguồn nước cấp cho các trại ương và từ nước ao. Lượng potassium permanganate cần để khử 1 mg/L hydrogen sulfate hoặc sắt (Fe2+) tương ứng là 6,19 và 0,94 mg/L.

Sục khí thông thường là một cách làm rẻ tiền và hiệu quả hơn nhiều để khử hydrogen sulfate và sắt (Fe2+) từ nước. Nói chung, potassium permanganate không phải là chất nâng cao chất lượng nước hữu dụng.

Sodium Nitrate (Na2NO3)

Sodium nitrate được dùng làm phân bón để kích thích tảo trong các ao nuôi tôm. Dù đôi khi được cho là để tăng cường hàm lượng oxy hòa tan trong nước thì hợp chất này không giải phóng oxy phân tử. Dĩ nhiên là hợp chất này dùng làm nguồn cung oxy cho vi khuẩn khử nitrat nhằm khử nitrat thành khí nitơ. Khi hàm lượng nitrat có thể đo được vẫn ở trong nước hoặc bùn, thế oxy hóa khử sẽ quá cao cho việc sản sinh ion sắt và hydrogen sulfide bởi vi khuẩn yếm khí.

Sodium nitrate có thể tốt cho chất lượng nước trong các ao, nhưng chất này đắt và các lợi ích kinh tế của việc sử dụng chất này chưa được nghiên cứu kỹ càng. Hợp chất nitrat như potassium, calcium và ammonium nitrate có tính hóa học cũng giống như sodium nitrate, nhưng chỉ sodium nitrate đang được dùng rộng rãi là chất oxy hóa bùn.

Hydrogen Peroxide (H2O2 – oxy già)

Hydrogen peroxide thường được cho vào nước trong các bể dùng để vận chuyển cá con đến các vùng xa ở Ấn Độ và các nước châu Á khác, bởi vì chất này tự động phân hủy trong nước để giải phóng oxy phân tử. Một giọt khoảng 0,5 mL hydrogen peroxide 6% cung cấp khoảng 1,5 mg/L oxy hòa tan trong 1 L nước.

Hydrogen peroxide cũng đôi khi được dùng làm nguồn cấp oxy hòa tan khẩn cấp trong các khu nuôi cá hồi raceway, các ao và các hệ thống nuôi khác.

Sự có mặt của chất hữu cơ trong các khu nuôi dùng làm chất xúc tác để thúc đẩy quá trình phân hủy hydrogen peroxide và giải phóng oxy hòa tan. Sự hòa trộn trong các hệ thống nuôi trồng thủy sản cũng tạo thuận lợi giải phóng nhanh oxy từ hydrogen peroxide.

Các nghiên cứu ở các bể và ao nuôi cá cho thấy hàm lượng hydrogen peroxide giảm từ 15,0 đến 25,0 mg/L ngay sau khi xử lý từ 0,4 đến 2,0 mg/L sau 24 giờ. Không có nhiều thông tin về độ độc của hydrogen peroxide đối với cá và tôm, nhưng số liệu hiện tại đưa ra giả thuyết hàm lượng trên 5 mg/L trong hơn vài giờ có thể nên cần tránh.

Sodium Carbonate Peroxyhydrate (Na2CO3·1.5H2O2)

Sodium carbonate peroxyhydrate (Na2CO3·1.5H2O2) là hợp chất rắn gồm 2 phần sodium carbonate và ba phần hydrogen peroxide. (Na2CO3·1.5H2O2) phân hủy trong nước thành sodium carbonate và hydrogen peroxide.

Hydrogen peroxide từ (Na2CO3·1.5H2O2) phân hủy theo cách giống như hydrogen peroxide thường phản ứng để giải phóng oxy phân tử. Sodium carbonate từ (Na2CO3·1.5H2O2) phản ứng để tạo thành bicarbonate và tăng tổng độ kiềm. Mức sử dụng 1 mg/L (Na2CO3·1.5H2O2) về mặt lý thuyết sẽ giải phóng 0,15 mg/L oxy hòa tan và tăng tổng độ kiềm lên 0,64 mg/L.

Cả hydrogen peroxide (H2O2) và Sodium carbonate peroxyhydrate (Na2CO3·1.5H2O2) thường được khuyên dùng làm nguồn cung khẩn cấp oxy hòa tan trong các ao nuôi và nuôi cá hồi raceway. Tuy nhiên, liều lượng xử lý đối với các hợp chất này có thể khá cao.

Ví dụ như để cung cấp 1,5 mg/L oxy hòa tan ở ao 1 ha độ sâu 1 m có thể cần 500 L hydrogen peroxide 6%. Dĩ nhiên, liều xử lý có thể giảm xuống bằng cách dùng dung dịch mạnh hơn, nhưng do tính phản ứng cao của nó, có thể nguy hiểm khi dùng ở hầu hết các cơ sở nuôi trồng thủy sản dung dịch hydrogen peroxide mạnh hơn 20 đến 30%.

Chi phí cũng có thể khá lớn. Giả sử giá sỉ khoảng 1,50 Đô là Mỹ/kg hydrogen peroxide tinh khiết thì sẽ tốn chi phí khoảng 47,82 Đô la Mỹ để đáp ứng số lượng cần để cung cấp 1,5 mg/L oxy hòa tan ở một ao mẫu. Chi phí (Na2CO3·1.5H2O2) tính theo đơn vị oxy hòa tan sẽ có khả năng nhiều hơn hydrogen peroxide, nhưng việc bảo quản và sử dụng (Na2CO3·1.5H2O2) có thể có ít nguy hại về an toàn.

Nước chảy qua các bể nuôi cá hồi raceway thường là nhanh thay đổi 3 vòng/giờ. Các nghiên cứu cho thấy sự giải phóng oxy hòa tan từ hydrogen peroxide trong vòng 1 giờ sau khi sử dụng tương đối ít. Phần lớn hydrogen peroxide có thể bị trôi khỏi hệ thống raceway và một phần khác chảy qua hệ thống trước khi giải phóng hầu hết oxy của nó.

Calcium Peroxide (CaO2)

Calcium peroxide là chất rắn ít nguy hại hơn hydrogen peroxide (H2O2) để bảo quản và sử dụng. Chất này thấy rõ không hòa tan được trong nước nhưng phản ứng trong nước để giải phóng oxy phân tử. Một mg calcium peroxide sẽ giải phóng khoảng 0,22 mg oxy. Vì tính hòa tan chậm, nên chất này sẽ lắng xuống đáy ao, ở đó nó sẽ dần dần giải phóng oxy phân tử.

Ở Nhật, calcium peroxide được đưa xuống đáy các ao nuôi lươn với liều 25 – 100 g/m2 định kỳ hàng tháng để oxy hóa sulfide sản sinh trong bùn yếm khí. Hiệu quả của quá trình này so với việc sử dụng sodium nitrate làm chất oxy hóa bùn đáy thì không so sánh được. Calcium peroxide khác với sodium nitrate là ở chỗ oxy được giải phóng trực tiếp, đúng hơn là được cung cấp cho vi khuẩn ở một dạng hỗn hợp.

Phản ứng của calcium peroxide trong nước cũng sản sinh calcium hydroxide, làm cho pH tăng. Calcium hydroxide phản ứng với carbon dioxide để hình thành bicarbonate hạn chế tăng pH và góp vào tổng độ kiềm.

Ngoài ra, ion calcium cũng làm tăng tổng độ cứng. Mỗi một mg calcium peroxide có khả năng tạo ra khoảng 1,39 mg tổng độ cứng và tổng kiềm. Do đó chất vôi có giá trị trung hòa cao bổ sung làm nguồn cung oxy phân tử.

Theo Advocate – Tạp chí thủy sản nuôi toàn cầu tháng 01-02/2013
Nguồn: atcvietnam.com.vn

Monday, May 13, 2013

“Hóa giải” hội chứng tôm chết sớm?

Hội chứng tôm chết sớm (EMS) hay Hội chứng hoại tử gan tụy cấp tính ở tôm nuôi (AHPNS) đã và đang đặt ngành tôm châu Á trước chuỗi ngày đen tối.

Tuy nhiên, đầu tháng 5/2013, Liên minh Thủy sản toàn cầu (GAA) thông báo rằng, Tiến sĩ Donald Lighter, nhà nghiên cứu bệnh học của Trường Đại học Arizona (Mỹ) đã tìm ra nguyên nhân của EMS, mở ra hy vọng tìm biện pháp dài hạn để khắc phục dịch bệnh tiêu tốn của ngành tôm nuôi thế giới hàng tỷ USD mỗi năm này.

Nỗi ám ảnh của nhiều quốc gia

EMS được phát hiện đầu tiên tại vùng nuôi tôm đảo Hải Nam, Trung Quốc năm 2009, sau đó lan sang Việt Nam, Malaysia và Thái Lan, gây tổn thất hơn 1 tỷ USD mỗi năm. Dịch bệnh EMS thường bùng phát trong vòng 30 ngày sau khi thả giống, tỷ lệ tôm chết có thể vượt quá 70%.

Tại Việt Nam, EMS bắt đầu xuất hiện từ năm 2010 và bùng phát mạnh từ tháng 3/2011, gây thiệt hại lớn cho người nuôi tôm. Năm 2012, Việt Nam có trên 100.776 ha tôm nước lợ bị thiệt hại về dịch bệnh, bao gồm các bệnh hội chứng gan tụy cấp tính, đốm trắng, đầu vàng...

Còn tại Malaysia, EMS được bắt đầu báo cáo vào năm 2010. Ngành nuôi tôm Thái Lan cũng bắt đầu phải chịu đựng ảnh hưởng của EMS từ năm 2012. Đến nay, hầu hết các trang trại trong vùng nuôi tôm rộng lớn ở miền đông Thái Lan đều bị thiệt hại do ảnh hưởng của EMS. Trong cuối năm 2012 và đầu năm 2013, đỉnh điểm có đến 80 - 90% diện tích ao nuôi ở khu vực này phải ngừng sản xuất.

Bộ trưởng Bộ Thương mại Thái Lan, Boonsong Teriyapirom cho biết, xuất khẩu tôm của Thái Lan trong quý I/2013 giảm nhẹ và chắc chắn tình hình trong quý II/2013 sẽ còn xấu hơn vì nguồn cung tiếp tục giảm do EMS.

Theo Chủ tịch Hiệp hội Thực phẩm Đông lạnh Thái Lan (TFFA), Pote Aramwattananond, quý I/2013, xuất khẩu tôm của Thái Lan giảm 20 - 30%, tương đương 673 triệu USD đến 1 tỷ USD do đồng baht tăng giá và EMS bùng phát tại các trại nuôi tôm. Sản lượng tôm của Thái Lan trong 3 tháng đầu năm 2013 cũng chỉ đạt 57.000 tấn, giảm mạnh so với mức trung bình 100.000 tấn hàng quý trước đó. Do đó, xuất khẩu tôm của nước này sang Mỹ trong thời gian này cũng chỉ đạt 23.806 tấn, giảm 21,5% so với 30.316 tấn cùng kỳ năm ngoái.

Nếu không được Chính phủ hỗ trợ hỗ trợ tài chính và cung cấp các khoản vay lãi suất thấp cho người nuôi tôm, sản lượng tôm trong quý 2/2013 của Thái Lan có thể chỉ đạt dưới 60.000 tấn và tổng sản lượng cả năm có thể chưa đến 400.000 tấn, Pote Aramwattananond cho biết thêm.

Nhiều nước ngừng nhập khẩu

Đến nay, EMS đã ảnh hưởng đến nhiều trang trại và khu vực nuôi tôm ở châu Á bao gồm các nước có ngành công nghiệp nuôi tôm lớn như Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam.

Các quốc gia khác như Indonesia, Ấn Độ, Bangladesh đang được hưởng lợi từ việc tăng giá tôm do thiếu hụt nguồn cung từ các nước cạnh tranh trực tiếp khác và đang nỗ lực ngăn chặn sự lây lan của EMS ảnh hưởng đến ngành nuôi tôm trong nước. Đặc biệt, các nước châu Mỹ Latinh có ngành nuôi tôm phát triển như Mexico, Ecuador và một số quốc gia khác đang tìm mọi cách để tránh hậu quả của EMS từ các nước châu Á bằng các biện pháp kiểm dịch chặt chẽ hoặc cấm nhập khẩu tôm từ các nước châu Á.

Đơn cử như giữa tháng 4/2013 vừa qua, Mexico đã ra quyết định ngừng nhập khẩu sản phẩm tôm sú, tôm thẻ chân trắng từ 4 nước châu Á là Trung Quốc, Malaysia, Thái Lan và Việt Nam. Những ngày đầu tháng 5/2013, Cục Nghề cá và Nguồn lợi Thủy sản Philippines (BFAR) cũng đã đưa ra quyết định cấm nhập khẩu vô thời hạn đối với tôm tươi sống, động vật giáp xác từ một số nước châu Á.

Một trong những lý do chính để cả Mexico và Philippines ban hành quyết định này là do lo ngại Hội chứng EMS sẽ lây sang, làm ảnh hưởng đến ngành công nghiệp chế biến tôm nuôi trong nước.

Đã tìm ra nguyên nhân?

Sau nhiều tháng điều tra nghiên cứu, nhóm các nhà khoa học do Tiến sỹ Donald Lightner lãnh đạo đã phát hiện nguyên nhân gây ra EMS/AHPNS là do các vi khuẩn lây truyền qua đường miệng, tập trung ở đường ruột của tôm, sản sinh ra độc tố phá hủy các mô và gây rối loạn chức năng các cơ quan tiêu hóa như gan, tụy. Tuy nhiên, loại vi khuẩn này không ảnh hưởng đến con người.

Nhóm nghiên cứu cho biết, mầm bệnh EMS/AHPNS là một chủng khác lạ của vi khuẩn khá phổ biến là Vibrio parahaemolyticus do thực khuẩn thể truyền bệnh làm sản sinh một loại độc tố mạnh. Hiện tượng này cũng tương tự như dịch tả ở người, khi các thực khuẩn thể tạo điều kiện cho vi khuẩn Vibrio cholerae sản sinh độc tố gây nên triệu chứng tiêu chảy đe dọa đến tính mạng ở người.

Các nhà nghiên cứu đang tiếp tục tập trung tìm kiếm phương pháp chẩn đoán nhằm phát hiện sớm mầm bệnh EMS/AHPNS một cách nhanh chóng, giúp quản lý tốt hơn các trại giống, ao nuôi và đưa ra giải pháp dài hạn đối với dịch bệnh này. Các nghiên cứu cũng sẽ giúp đánh giá chính xác hơn các nguy cơ liên quan đến việc nhập khẩu tôm đông lạnh hoặc các sản phẩm khác từ các nước có dịch bệnh EMS.

Nguồn http://tepbac.com/

Wednesday, May 1, 2013

Nuôi tôm cần tảo đậm hay tảo nhạt ?

Nuôi tôm không thể thiếu tảo. Tảo cùng với máy quạt nướclà nguồn cung cấp ôxy quan trọng cho ao nuôi. Tảo tạo thành “tấm che” ngăn bớt ánh sáng chiếu xuống đáy giúp tôm giảm stress (sốc) và hạn chế tảo đáy phát triển. Ngoài ra tảo còn là nguồn thức ăn tự nhiên gián tiếp trong giai đoạn tôm còn nhỏ.


Bình thường, tảo tương đối nhạt ở tháng nuôi đầu. Nhưng bắt đầu từ tháng nuôi thứ hai trở đi, sự tích tụ chất thải khiến cho tảo phát triển mạnh, màu nước ao nuôi đậm dần cho đến khi thu hoạch. Màu nước quá đậm gây ra một số bất lợi:
  • pH vào buổi chiều quá cao (trên 8,5) làm cho độ độc của NH3 tăng
  • Ôxy “rớt” xuống thấp (dưới 3 ppm) từ nửa đêm đến gần sáng khiến tôm dễ nổi đầu
  • Tảo dễ bị tàn khi gặp thời tiết xấu

Làm thế nào để biết tảo trong ao đã đậm ?
  • Độ trong của nước dưới 30 cm
  • Độ pH [pH chiều hôm nay cao hơn pH chiều hôm qua trên 0,2 hoặc pH chiều (cao nhất trong ngày) cao hơn pH sáng (thấp nhất trong ngày) trên 0,5]
  • Ôxy buổi sáng (khu vực rìa chất thải) dưới 3 ppm, tôm nổi đầu vào nửa đêm hay sáng sớm
  • Tôm giảm ăn

Theo kinh nghiệm, khi màu nước ao nuôi quá đậm, người nuôi thường “cắt” tảo bằng hóa chất như BKC hoặc dùng vôi dolomite đánh vào ban đêm. Trong nhiều trường hợp, tảo bị “rớt” đột ngột ngay sau đó và một lượng lớn xác tảo gây ô nhiễm ao nuôi.

Hiện nay, sự biến đổi khí hậu khiến cho thời tiết ngày càng bất thường. Các đợt mưa kéo dài, gió mạnh, đợt lạnh hay nắng nóng kéo dài tác động xấu đến chất lượng nước ao nuôi và ảnh hưởng mạnh đến tảo. Vì vậy, xu hướng hiện nay là nuôi tôm với tảo nhạt (độ trong 30 - 45 cm) trong suốt vụ nuôi, đặc biệt là từ tháng nuôi thứ hai đến khi thu hoạch. Để làm được điều này, người nuôi cần kiểm soát được lượng chất thải (bùn đen) trong ao ở mức “cho phép”. Sau đây là một số biện pháp cần thực hiện:

1- Kiểm soát chặt chẽ thức ăn
  • Cho ăn vừa đủ hay hơi thiếu, tránh cho ăn thừa
  • Đối với tôm chân trắng cho ăn 3 suất rưỡi (ban đêm cho ăn 50% để tôm ăn thức ăn thừa trong ngày)
  • Chủ động cắt giảm thức ăn khi thời tiết bất lợi, tôm lột xác, sau khi xử lý hóa chất, thiếu ôxy (tôm nổi đầu hay ôxy vùng rìa chất thải dưới 3 ppm).
2- Chạy máy quạt nước đưa ôxy đầy đủ xuống ao
  • 1 HP (chạy dầu) = 400 kg tôm, 1 kw (chạy điện) = 500 kg tôm
  • Khi cho ăn, tắt hết quạt trong tháng đầu, nhưng từ tháng nuôi thứ hai trở đi đến khi thu hoạch thì chỉ tắt 50% lượng quạt nước
3- Sử dụng vi sinh PondPlus® 1 kg/ 10.000 m2, định kỳ 7 - 10 ngày/lần
4- Nếu mất tảo đột ngột do biến động mạnh về thời tiết thì người nuôi có thể sử dụng màu nhân tạo, sau đó cần gây màu trở lại.

Khi tảo đậm thì xử lý ra sao ?

Cần thực hiện các biện pháp dưới đây liên tục từ 4 - 7 ngày tùy mức độ đậm của tảo:
  • Cắt giảm thức ăn
  • Tăng cường quạt nước liên tục
  • Tăng liều lượng và rút ngắn ngày sử dụng vi sinh PondPlus®

  

(Nguồn: http://bayeranimal.com.vn/)

Khí độc H2S - “sát thủ giấu mặt” của tôm nuôi

Trong quá trình nuôi, các chất thải được máy quạt nước gom tụ vào giữa đáy ao (đối với ao đáy bùn đất thì một lượng chất thải vẫn còn phân bố xung quanh nền đáy). Đống chất thải này phân thành 2 lớp. Lớp ngoài rất mỏng (khoảng 5 mm) được ôxy hoá nên có màu tương đối sáng, có chức năng bao phủ và hạn chế khí độc thoát ra ngoài. Lớp bên dưới có màu đen, chất thải ở điều kiện thiếu ôxy nên vi khuẩn khử lưu huỳnh tạo ra khí độc H2S.


Khí độc H2S có mùi trứng thối, càng nhiều bùn đen thì càng nhiều khí độc H2S. Nó được gọi là “sát thủ” vì độ độc H2S cao gấp nhiều lần so với NH3 và NO2, chỉ cần 0,01 ppm là có thể giết chết tôm. Còn “giấu mặt” vì cho đến nay, vẫn chưa có dụng cụ kiểm tra hàm lượng khí độc H2S trong ao nuôi.

Sau đây là mô tả diễn biến, dấu hiệu nhận biết và biện pháp cụ thể của một số trường hợp tôm bị chết do khí độc H2S.

1. Chết sau tháng nuôi đầu (ngày nuôi thứ 25 - 45)


Diễn biến: Sau khi cải tạo xong, cấp nước mới vào ao (đặc biệt đối với ao đáy đất cũ, ao ở vùng rừng ngập mặn đáy có nhiều xác cây sú vẹt và ao lót bạt qua nhiều vụ nuôi), chất hữu cơ dưới đáy ao bắt hòa tan vào nước, gây tiêu tốn nhiều ôxy và xuất hiện lượng khí độc tương đối cao.

Đối với tôm sú, thường sống tập trung ở đáy ao, đây là nguyên nhân khiến tôm bị stress (sốc) và yếu, dễ bị cảm nhiễm vi khuẩn Vibrio, hoặc nghiêm trọng hơn là tôm sẽ bị chết do khí độc H2S (người nuôi gọi đây là hội chứng tháng nuôi đầu).

Đối với tôm chân trắng, lúc này ít nghiêm trọng hơn bởi vì hầu hết hoạt động của tôm diễn ra trong tầng nước, nhưng tôm cũng có thể yếu và dễ cảm nhiễm bệnh. Nếu tôm đang lột xác hoặc sục xạo tìm kiếm thức ăn dưới đáy sẽ rất dễ bị ảnh hưởng bởi khí độc H2S.

Dấu hiệu: Tôm yếu bơi lờ đờ trên mặt nước hoặc chết trong giai đoạn nuôi 25 - 45 ngày.

Giải pháp: Luôn duy trì hàm lượng ôxy hòa tan trong nước trên 4 ppm. Khi tôm còn nhỏ, tất cả các máy quạt nước nên được duy trì hoạt động thường xuyên. Ván tảo tàn nổi trên mặt nước phải được vớt hết ra khỏi ao và cấy vi sinh PondDtox® 2 kg/ 10.000 m2 xuống ao để khử khí độc H2S.

2. Chết sau 2 tháng nuôi (ngày nuôi 70 đến thu hoạch)

Diễn biến: Khi tôm nuôi được 70 ngày, đống chất thải trong ao đã sinh ra một lượng lớn khí độc H2S. Nếu để xảy ra vấn đề thiếu ôxy đột ngột do tảo tàn, thay đổi thời tiết (mưa, mây mù) hoặc cho ăn thừa thì vi khuẩn kị khí sẽ tăng cường hoạt động và tạo ra nhiều khí độc H2S. Từ thời điểm 70 ngày trở đi, tôm dễ bị stress (sốc) bởi khí độc H2S, các khí độc khác, hàm lượng ôxy thấp và không gian sống bị thu hẹp. Đặc biệt, những con yếu và những con trong giai đoạn lột xác có xu hướng lẫn tránh những con khỏe vào khu vực chất thải nơi có khí độc H2S cao, khiến tôm bị stress (sốc) và trở nên yếu hơn.

Dấu hiệu: Xuất hiện những bọt bong bóng lâu tan nổi trên mặt nước ở giữa ao. Chất thải chuyển sang màu rất đen. Thỉnh thoảng tôm giảm ăn mạnh vào cữ sáng. Xuất hiện tôm chết sậm màu với dấu hiệu miệng đen và mang có màu khác thường như hồng, đỏ tía hoặc đen.

Giải pháp: Người nuôi nên có kế hoạch thả số lượng tôm phù hợp cho từng ao. Nếu vấn đề trên xảy ra, nên giảm lượng thức ăn, tăng cường quạt nước, duy trì pH trên 7,5 vào buổi sáng, cấy vi sinh PondDtox® 2 kg/ 10.000 m2 (lần 1) và 1 kg/ 10.000 m2 (lần 2) cách nhau 3 - 4 ngày.

3. Mưa

Diễn biến

Tiếng động: Mưa rớt xuống mặt nước ao gây kích động đến tôm, khiến hầu hết tôm có xu hướng tập trung xuống đáy ao, nơi mà tôm sẽ tiếp xúc với đống chất thải và hàm lượng ôxy hòa tan thấp.

Nhiệt độ thấp: Trời mưa làm cho nhiệt độ nước ao giảm thấp, tôm di chuyển đến nơi có nhiệt độ ấm hơn là khu vực chất thải và bị ảnh hưởng bởi khí độc H2S. Khi trời nắng trở lại, nhiệt độ nước tăng khiến quá trình phân hủy chất thải diễn ra với tốc độ nhanh. Điều này làm tiêu hao một lượng lớn ôxy hòa tan trong ao.

Trời âm u: Trời nhiều mây mù, tảo không có ánh sáng để quang hợp. Tảo không tạo ra ôxy mà còn sử dụng ôxy do quá trình hô hấp tự nhiên. Khi ôxy hòa tan thấp, khí độc H2S sinh ra nhiều và phân tán đến khu vực cho ăn, khiến cho tôm khỏe trở nên yếu và nhiễm bệnh.

pH thấp: Nước mưa có tính axít và đó là nguyên nhân làm cho pH nước ao giảm thấp. pH thấp làm cho H2S trở nên nguy hiểm hơn, Khí H2S cực độc (100%) khi pH = 5 và không độc (0%) khi pH = 10.

Phân tầng nước ao: Nước mưa gây phân tầng, tầng nước ngọt ở phía trên mặt ao và tầng nước mặn ở dưới. Điều này gây cản trở sự hòa tan của ôxy xuống phía dưới, gây stress (sốc) cho tôm và tăng tính độc H2S.

Sóng trên mặt nước: Nếu trời mưa kèm theo gió mạnh từ 15 km/giờ trở lên sẽ tạo ra các đợt sóng mạnh trên mặt nước ao, cũng như tạo ra luồng nước ở dưới đáy ao. Điều này làm cho đống chất thải ở đáy ao bị khuấy động, tróc lớp bùn mỏng bảo vệ bề mặt đáy, khí độc H2S thoát ra và bao phủ khắp khu vực đáy ao.

Sau cơn mưa: Khi trời ngừng mưa, một lượng lớn chất thải tạo ra nhiều chất thải hữu cơ và là thức ăn cho vi khuẩn gây hại phát triển. Vi khuẩn tiêu thụ nhiều ôxy và ở phía dưới đống chất thải, do thiếu ôxy nên vi khuẩn khử lưu huỳnh tạo ra khí độc H2S.

Ngoài ra, trời mưa khiến tôm giảm ăn và nhiều con tập trung ở nhá/vó để bắt mồi hơn là ở đáy ao. Người nuôi cho rằng tôm ăn tốt vì thấy hết thức ăn trong nhá/vó, nhưng thực ra lượng thức ăn vẫn thừa nhiều ở đáy ao.

Dấu hiệu: Tôm trở nên yếu, mắc bệnh hoặc chết sau cơn mưa. Một số tôm có chân bơi màu nâu đen, miệng đen và màu sắc cơ thể sậm hơn. Tôm giảm ăn và nhiều con chết.

Giải pháp: Khi trời mưa, cần duy trì hoạt động của tất cả các máy quạt nước và cắt giảm lượng thức ăn (khoảng 50%) hoặc đợi sau khi hết mưa khoảng 20-30 phút mới cho tôm ăn. Kịp thời rải vôi tôi (CaO hoặc Ca(OH)2) quanh vùng rìa của đống chất thải. Sử dụng vi sinh PondDtox® 2 kg/ 10.000 m2 trước hoặc ngay sau khi trời mưa để giảm sự bùng phát khí độc H2S. Người nuôi nên thường xuyên kiểm tra pH nước. Nếu pH thấp cần bón vôi tôi (CaO hoặc Ca(OH)2) quanh vùng rìa của đống chất thải, mỗi lần một ít và tiếp tục kiểm tra, điều chỉnh pH nước cho đến khi pH trên 7,5. Luôn đảm bảo hàm lượng ôxy hòa tan tại vùng rìa chất thải trên 4 ppm.

4. Thời tiết lạnh

Diễn biến: Trong vùng chất thải, luôn có vi khuẩn hoạt động phân hủy chất hữu cơ. Quá trình này sinh ra nhiệt nên tại khu vực chất thải luôn ấm hơn các nơi khác trong ao. Khi thời tiết trở lạnh, tôm khỏe có khả năng chống chịu tốt hơn và tránh xa khu vực chất thải. Trong khi đó, tôm yếu chịu lạnh kém sẽ tiến đến khu vực chất thải (nhiệt độ ấm hơn) và bắt đầu nhiễm độc bởi khí H2S. Khi thời tiết ấm trở lại, vi khuẩn phân hủy chất thải với tốc độ nhanh hơn và tiêu thụ một lượng lớn ôxy. Hàm lượng ôxy thấp sẽ làm cho tôm sống ở khu vực này bị nhiễm độc bởi khí H2S.

Dấu hiệu: Nhiệt độ thấp khiến tốc độ trao đổi chất trong cơ thể tôm diễn ra chậm. Tôm ăn ít và tiêu hóa thức ăn chậm. Tôm sử dụng ít năng lượng và độ nhạy của giác quan khứu giác giảm. Một số tôm giảm ăn do khí độc H2S. Khi thời tiết ấm trở lại, hầu hết tôm ăn nhiều hơn nhưng có nhiều tôm chết sớm sau đó.

Giải pháp: Khi thời tiết trở lạnh (25 - 26oC), lượng thức ăn nên được giảm 20 - 30%. Tăng cường quạt nước để cung cấp đầy đủ ôxy trong cả ngày. Đặt vài nhá/vó để kiểm tra tôm yếu tại khu vực vùng rìa của đống chất thải. Nếu phát hiện có tôm yếu vào nhá thì tiến hành trộn vitamin, khoáng vào thức ăn để hỗ trợ tôm khỏe hơn. Vôi được rải quanh vùng rìa đống chất thải để giữ cho pH cao và hạn chế ảnh hưởng của khí độc H2S.

5. Tảo tàn

Diễn biến: Khi tảo chết, xác tảo là nguồn thức ăn cho vi khuẩn và gây tiêu tốn nhiều ôxy. Điều này góp phần gia tăng sự hình thành khí độc H2S và gây stress (sốc) cho tôm, khiến tôm nhiễm độc nặng hơn.

Dấu hiệu: Giống trường hợp trời mưa.

Giải pháp: Khi tảo tàn, điều quan trọng là duy trì pH thông qua việc bón vôi (Ca(OH)2). Giảm 30 - 50% lượng thức ăn liên tiếp trong 2 - 3 ngày. Các máy quạt nước cần được duy trì hoạt động trong cả ngày, bởi vì lúc này máy quạt nước là nguồn duy nhất cung cấp ôxy và xác tảo là nguyên nhân tiêu hao ôxy rất nhiều. Người nuôi nên bổ sung vi sinh PondPlus® 1 kg/ 10.000 m2 vào ao để góp phần phân hủy xác tảo (PondPlus® là vi sinh phân hủy chất thải rất tốt và sử dụng ít ôxy).

6. Đáy ao bị xáo trộn

(Do lội ao thu tỉa tôm, lắp đặt sữa chữa máy quạt nước hoặc lội ao nhặt tôm chết ở đáy)

Diễn biến: Bình thường bề mặt của đống chất thải được tiếp xúc đủ ôxy nên tạo ra lớp bùn sạch. Lớp này rất mỏng, có màu tương đối sáng, bao phủ bùn đen thiếu ôxy bên dưới và hạn chế khí độc H2S ở bùn đen thoát lên. Nhưng khi lớp bề mặt này bị trốc ra, một lượng lớn khí độc H2S đột ngột thoát vào nước. Những con tôm ở gần đó sẽ chết do bị nhiễm bởi khí độc này.

Dấu hiệu: Tôm sẽ ăn rất ít vào cữ ăn buổi sáng hoặc các cữ ăn khác. Xác tôm chết sẽ được tìm thấy sau 2 - 3 ngày.

Giải pháp:Người nuôi không nên khuấy động đống chất thải ở đáy ao, bởi vì một khi một lượng lớn khí độc H2S khuyếch tán vào nước thì khó có thể cứu vãn được. Tôm sẽ bị ảnh hưởng ngay lập tức và việc điều trị lúc này trở nên tốn kém. Cách tốt nhất mà người nuôi có thể làm là cố gắng kiểm soát pH nước (bón vôi), cắt giảm thức ăn (60 - 70%), tăng cường quạt nước tối đa để cung cấp ôxy và ngay lập tức đưa vi sinh PondDtox® 2 kg/ 10.000 m2 xuống ao.


7. Rút đáy, si-phông hoặc thay nước ao

Diễn biến: Khi rút đáy hay si phông, lớp màng mỏng bao bọc đống chất thải (để ngăn khí độc H2S thoát ra) sẽ bị vỡ và bị gây xáo trộn. Ngay lập tức người nuôi có thể ngửi thấy mùi trứng thối. Một lượng lớn khí độc H2S sẽ phân tán vào nước ao. Nếu pH nước thấp, khí H2S sẽ gây độc mạnh đến tôm nuôi.

Dấu hiệu: Tôm bỏ ăn trong 1 hoặc 2 cữ. Phát hiện một số tôm chết.

Giải pháp: Khi thực sự cần thiết làm sạch đáy ao lúc tôm lớn, người nuôi chú ý không nên khuấy động bề mặt của đống chất thải quá mạnh. Nếu tất cả các máy quạt nước được lắp đặt đúng vị trí ngay khi bắt đầu vụ nuôi, dòng chảy sẽ gom tụ đống chất thải nhỏ lại, và ít có vấn đề xấu xảy ra. Ngoài ra, nếu sử dụng vi sinh sẽ giúp cho quá trình phân hủy chất thải diễn ra nhanh và duy trì lượng ôxy hòa tan trong nước ở mức cao, dẫn đến ít hình thành khí độc H2S. Trường hợp rút đáy hay si phông chất thải thì nên cẩn thận.

Trước khi rút đáy hay si phông, người nuôi nên bón vôi (Ca(OH)2 hoặc CaCO3) để nâng pH trên 8. Điều này làm cho khí độc H2S ít nguy hiểm đến tôm. Đồng thời, sử dụng PondDtox® 2 kg/ 10.000 m2 trước khi rút đáy hoặc si phông từ 1 - 2 ngày giúp dọn sạch khí độc H2S.

8. Tôm lột xác

Diễn biến: Khi lột xác, tôm yếu và cần nhiều ôxy. Đây là giai đoạn khó khăn, tôm phải tránh xa những con tôm khỏe hơn nên buộc phải ẩn nấp vào khu vực chất thải, nhưng không may là khu vực này rất nghèo ôxy và chúng có thể bị ảnh hưởng bởi khí độc H2S.

Dấu hiệu: Sau khi lột xác, tôm bị mềm vỏ (cũng có thể do mất cân bằng khoáng), yếu, dễ nhiễm bệnh và chết. Tôm màu sậm hoặc mất màu (nhợt nhạt) và không có thức ăn trong đường ruột.

Giải pháp: Người nuôi nên cố gắng quản lý tốt chất lượng nước ao tại mọi thời điểm. Tăng cường quạt nước để cung cấp đủ ôxy khi tôm đang trong giai đoạn lột xác. Máy quạt nước cũng được lắp đặt đúng vị trí để tạo dòng chảy gom toàn bộ chất thải vào chính giữa ao.

9. Ôxy giảm đột ngột

Diễn biến: Khí H2S là cực độc vì kết hợp rất mạnh với tế bào máu, khiến tôm không lấy đủ lượng ôxy cần thiết. Cho dù trong nước thiếu ôxy với bất kỳ lý do nào, như tảo rớt đột ngột, máy quạt nước bị hư, bầu trời nhiều mây đen trong thời gian dài, trời mưa lớn, nước ao có phân tầng độ mặn sẽ làm tăng nguy cơ tôm bị ảnh hưởng bởi khí độc H2S.

Dấu hiệu: Tôm yếu và nhiễm bệnh không rõ nguyên nhân. Tôm giảm hoặc ngưng ăn và trong trường hợp xấu nhất có thể chết.

Giải pháp: Tăng cường quạt nước cung cấp ôxy đầy đủ tại mọi thời điểm, đặc biệt khi thiếu ánh sáng mặt trời, tảo tàn, trời mưa to, hoặc tôm đang lột xác; nếu có nguồn nước sạch thì có thể thay. Kiểm tra hàm lượng ôxy trong ao thường xuyên hơn. Nếu nước ao đổi màu, pH nên được điều chỉnh ở mức 7,8 - 8,3. Khí độc H2S sẽ trở nên nguy hiểm nếu pH xuống gần 5.

(Nguồn: http://www.bayeranimal.com.vn)

Tuesday, April 23, 2013

Loại bỏ độ đục từ nước ao nuôi

Tóm tắt:
Các vấn đề về độ đục trong nước ao nuôi trồng thủy sản thường là do các hạt đất sét hoặc các hạt bùn/phù sa mịn vẫn lơ lửng do sự nhiễu loạn của nước hoặc quá trình lắng đọng quá mức. Độ đục có thể cũng ảnh hưởng đến các ao được bón phân hữu cơ, phân hóa học hoặc là có thức ăn. Xử lý bằng các chất keo tụ như alum (phèn nhôm) và thạch cao thông thường làm hết độ đục từ các ao. Tuy nhiên, độ đục có thể trở lại bởi vì các nguồn gây đục không được kiểm soát. Phương pháp tốt nhất là loại bỏ các nguồn gây đục và chỉ sử dụng alum (phèn nhôm) nếu độ đục vẫn còn.



(Tiến sĩ Claude E. Boyd
Khoa Thủy sản và liên minh nuôi trồng thủy sản - Đại học Auburn – Auburn, Alabama 36849 USA)

Độ đục quá mức ở trong các ao gây ra do các hạt đất lơ lửng – đây là chuyện thường xảy ra, đặc biệt trong nuôi trồng thủy sản nước ngọt. Phương pháp hiệu quả nhất trong việc ngăn chặn các ao “bùn” là kiểm soát sự xói mòn cả ở các đường dẫn nước vào ao và trong các ao.

Sử dụng các ao lắng bùn/trầm tích để làm sạch độ đục quá mức ở những nơi không thể tránh được các nguồn nước đục trước khi đưa nước vào các ao. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, các ao có thể vẫn đục sau khi thực hiện mọi biện pháp thông thường kiểm soát xói mòn và loại bỏ độ đục từ dòng chảy vào.

Quá trình lắng hạt

Các hạt đất lắng xuống từ nước theo phản ứng với trọng lực và các hạt lớn lắng nhanh hơn các hạt nhỏ hơn có mật độ bằng nhau. Mật độ của đất khoáng nhiều gấp hai lần mật độ của chất hữu cơ. Do vậy, chất khoáng lắng nhanh hơn nhiều chất hữu cơ ở cùng kích cỡ hạt. Các vấn đề về độ đục thường do các hạt đất sét hoặc bùn mịn. Các hạt này vẫn duy trì lơ lửng, gây ra độ đục kéo dài vì 3 lý do căn bản. Một khối nước có thể có đủ nhiễu loạn để chặn các hạt mịn lắng xuống. Tốc độ tái lơ lửng của các hạt có thể vượt tốc độ lắng bùn. Ngoài ra, keo đất sét lắng với một tốc độ cực kỳ chậm.

Các hạt đất sét tích điện âm và lực đẩy lẫn nhau chống lại chiều hướng các hạt tạo floc với nhau và lắng xuống. Sự hiện diện của các ion dương có chiều hướng trung hòa điện tích âm trên các hạt đất sét và làm cho chúng tạo floc. Khả năng của các ion dương để tạo floc các hạt đất sét tăng với hóa trị tăng dần.

Các ion dương có hóa trị 1 [sodium (Na+) và potassium (K+)] là chất tạo bông ít hiệu quả hơn nhiều so với các ion dương có hóa trị 2 [calcium (Ca2+) and magnesium(Mg2+)]. Các ion dương có hóa trị 3 như là nhôm và sắt là các chất tạo bông đặc biệt mạnh, nhưng hàm lượng tự nhiên của chúng trong nước rất thấp.

Tốc độ của các hạt keo đất sét lắng từ nước trở nên lớn hơn khi mà tổng hàm lượng chất rắn hòa tan (độ dẫn điện hoặc độ mặn) tăng lên. Chiều hướng này mạnh hơn nhiều nếu độ cứng nước (hàm lượng calcium và magnesium lớn hơn) cũng tăng ở mức cao hơn tổng hàm lượng chất rắn hòa tan.

Các quá trình sinh học cũng có thể làm cho các hạt đất sét lắng xuống. Vi khuẩn, thực vật phù du và các hạt chất hữu cơ phân rã có các bề mặt nhầy để các hạt đất sét bám vào làm cho quá trình tạo bông bắt đầu. Ngoài ra, các thay đổi về pH nước do hoạt động quang hợp hoặc quá trình phân hủy chất hữu cơ đôi khi thay đổi các điều kiện trên hoặc xung quanh các hạt đất sét và làm cho chúng tạo bông và lắng xuống.

Độ kiềm

Khi các nguồn gây đục đã được loại bỏ mà nước vẫn không trong thì nên kiểm tra tổng kiềm. Nếu độ kiềm thấp – thấp hơn 30mg/L – nên sử dụng lượng vôi nông nghiệp từ 2.000 đến 3.000 kg/ha. Lựa chọn khác có thể dùng vôi sống nhưng nếu ao đã thả giống thì lượng vôi sống xử lý không nên quá 50kg/ ha để tránh pH cao. Liều lượng vôi sống xử lý có thể lập lại hàng tuần.
Trong các ao có độ kiềm trên 40mg/L hoặc nếu vôi sống không làm hết đục thì có 2 lựa chọn: cố gắng làm hết đục bằng cách sử dụng các loại phân bón (vô cơ) hoặc xử lý ao bằng các chất keo tụ. Phương pháp phổ biến là thử bón các loại phân và sử dụng các chất keo tụ như là phương cách cuối cùng.

Các ao nuôi trồng thủy sản, các chất keo tụ

Hầu hết các ao nuôi trồng thủy sản có độ đục quá mức được bón phân hữu cơ, các loại phân hóa học hoặc là có thức ăn. Trong các ao có phân bón hữu cơ hoặc thức ăn, sử dụng một hoặc nhiều lần phân urê và triple superphosphate (TSP) hoặc các loại phân bón nitơ và phốtpho khác có thể làm cho các hạt đất sét lắng xuống.

Ở các ao đục có bón phân, sử dụng phân động vật, cỏ hoặc chất hữu cơ khác có thể làm hết đục. Khi cần lượng lớn chất hữu cơ đầu vào từ 1.000 – 2.000 kg/ha thì việc cần thiết thường làm là đưa chất hữu cơ thành nhiều liều nhỏ cách nhau vài ngày để tránh làm suy kiệt oxy hòa tan.

Có thể có nhiều loại chất keo tụ bao gồm calcium sulfate (thạch cao), calcium chloride, aluminum sulfate (phèn nhôm), aluminum chloride, iron sulfate, iron chloride và polymer hữu cơ nhất định. Hai chất keo tụ phổ biến nhất được sử dụng trong các ao nuôi trồng thủy sản là thạch cao và alum (phèn nhôm).

Thạch cao

Để loại bỏ độ đục phải sử dụng một lượng lớn thạch cao. Mức xử lý thông thường là 100-150 mg/L, nhưng các kiểm tra phải thực hiện trong máy khuấy để xác định mức xử lý thấp nhất có hiệu quả. Ở ao diện tích 1 ha với độ sâu 1m, mức xử lý là 100mg/L sẽ cần liều lượng 1.000kg/ha.

Nên rải thạch cao khắp bề mặt ao và khi thạch cao hòa tan thì sẽ làm tăng hàm lượng calcium trong nước để cải thiện các điều kiện cho quá trình tạo bông của các hạt lơ lửng. Mức xử lý hiệu quả đối với calcium chloride tương tự như thạch cao.

Alum (phèn nhôm)

Để làm hết đục thì liều lượng của hỗn hợp sắt và nhôm cần ít hơn so với hỗn hợp calcium. Ví dụ như filter alum (phèn nhôm thủy phân) thường có hiệu quả ở hàm lượng 20-50mg/L và máy khuấy kiểm tra độ phèn có thể xác định mức sử dụng tối ưu. Alum (phèn nhôm) có mối nguy hiểm tiềm tàng vì có tính axít cao nên công nhân cần mặc quần áo bảo hộ khi sử dụng. Alum (phèn nhôm) cũng làm suy giảm tổng hàm lượng kiềm vào khoảng 0,5 mg/L đối với mỗi 1,0 mg/L của chất keo tụ này.

Trong hầu hết các ao, alum (phèn nhôm) làm giảm độ kiềm và pH, nhưng sau vài ngày, các giá trị trở lại như các mức ban đầu (Hình 1). Tuy nhiên, các liều xử lý bằng alum (phèn nhôm) không nên nhiều hơn 50% tổng hàm lượng kiềm và nước có độ kiềm thấp nên bón vôi sau khi sử dụng alum (phèn nhôm).

Nên hòa tan alum (phèn nhôm) trước trong nước và tạt khắp bề mặt nước ao vào ngày tĩnh không mưa. Có thể sử dụng quạt nước/ sục khí trong vài phút để trộn alum (phèn nhôm) với nước ao, nhưng sau đó nên tắt máy để làm cho floc lắng xuống.
Một việc quan trọng là sử dụng đủ lượng alum (phèn nhôm) ban đầu để tạo bông, bởi vì alum (phèn nhôm) không có hiệu ứng dư. Hoạt chất, sắt nhôm kết tủa từ nước như nhôm hydroxide trong vòng vài phút. Nếu liều xử lý ban đầu không hiệu quả thì uổng công. Do vậy cẩn trọng kiểm tra bằng máy khuấy để xác định mức xử lý tối thiểu có hiệu quả.

Để thực hiện test, làm dung dịch gốc alum (phèn nhôm) 10.000 mg/L bằng cách hòa tan 1g alum (phèn nhôm) trong 100mL nước và đổ nước vào 10 lọ hoặc cốc trong suốt có thể tích 1-L để kiểm tra. Pha một loạt hàm lượng alum (phèn nhôm) từ 5 – 50 mg/L cách nhau 1 khoảng là 5 mg/L bằng cách cho dung dịch gốc (0,5 mL dung dịch gốc = 5 mg/L alum) vào các lọ. Khuấy mạnh, đợi 1 giờ và xác định hàm lượng thấp nhất gây đục để kết tủa.

Loại bỏ các nguồn gây đục trước

Tác dụng của liều xử lý alum (phèn nhôm) 25mg/L trên tổng độ kiềm, pH và độ đục của nước ao.
Xử lý bằng các chất keo tụ, cụ thể là alum (phèn nhôm), hầu như luôn luôn làm hết đục từ các ao. Tuy nhiên, độ đục có thể trở lại bởi vì các nguồn gây đục chưa được kiểm soát, hoặc sự khuấy đục từ các loài sinh vật nuôi. Quạt nước/ sục khí tạo dòng có thể gây đục, tác dụng của gió và sóng bình thường là đủ để tái lơ lửng các hạt liên tục và gây đục. Phương pháp tốt nhất luôn luôn là để loại bỏ các nguồn gây đục và chỉ sử dụng alum (phèn nhôm) khi độ đục vẫn còn.

Nếu liều xử lý đầu tiên bằng alum (phèn nhôm) không hiệu quả thì uổng phí. Do vậy cần cẩn thận dùng máy kiểm tra độ phèn (jar test) để xác định mức xử lý tối thiểu có hiệu quả.

Nguồn: Theo Advocate – Tạp chí thủy sản nuôi toàn cầu tháng 09-10/2012

Saturday, April 6, 2013

Đối phó bệnh EMS/AHPNS trên tôm

Đến nay, các nhà khoa học vẫn chưa xác định được nguyên nhân chính và cách phòng trừ bệnh hoại tử gan tụy cấp tính (EMS/AHPNS) trên tôm. Một số kết quả nghiên cứu bước đầu về bệnh EMS/AHPNS vì thế càng đáng chú ý.


Bệnh hoại tử gan tụy cấp tính đang hoành hành tại nhiều nước (ảnh TS Chalor Limsuwan)

Tại hội thảo “Chuyển giao kỹ thuật nuôi tôm” vừa được tổ chức tại Tiền Giang, TS Chalor Limsuwan (Hiệp hội Thủy sản Thái Lan) cho biết, hội chứng EMS/AHPNS gây chết tôm ở giai đoạn 15 - 50 ngày đầu sau khi thả giống và không liên quan gì đến các bệnh thông thường trên tôm khác (như đốm trắng, đầu vàng, teo gan). Tôm bị EMS/AHPNS thường chết trong giai đoạn 15 - 20 ngày sau khi thả giống.

Theo dõi những ao tôm bị bệnh EMS/AHPNS ở Thái Lan và Việt Nam, thấy tình trạng tôm chết khi chưa tới 30 ngày tuổi thường xảy ra ở những ao thả tôm giống có chất lượng không tốt do ấu trùng được ương với mật độ quá cao, ao sử dụng nhiều chế phẩm sinh học suốt quá trình chuẩn bị nước và trong 30 ngày đầu sau khi thả giống (làm giảm pH và độc tố dưới dạng khí NH3).

Thực nghiệm cho thấy, khi pH thấp thì tôm lột xác nhiều hơn so với điều kiện bình thường, khiến sức khỏe yếu, tôm chết sau khi lột xác (với hiện tượng vỏ tôm mềm và cơ thịt có màu trắng đục).

Đối với tôm chết trong giai đoạn 30 - 50 ngày tuổi, hội chứng EMS/AHPNS thường xảy ra ở những ao có sự chuẩn bị nước ao nuôi không tốt, như: độ trong của nước trong ao cao dẫn đến sự phát triển của tảo đáy, pH và độ kiềm giảm do mưa; quạt nước được bố trí và vận hành không hợp lý dẫn đến thiếu ôxy hòa tan trong khu vực bùn đáy ao.

Cùng nhận định trên, TS Nguyễn Văn Hảo, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II cho rằng, hội chứng EMS/AHPNS gây chết tôm là sự kết hợp hai yếu tố, đầu tiên là do độc tố làm mất chức năng gan, sau đó nhóm vi khuẩn Vibrio sẽ xâm nhập gây tôm chết hàng loạt và lan rộng. Nguyên nhân là do cải tạo và chuẩn bị ao nuôi không đúng kỹ thuật, khu nuôi không có ao lắng, mùa vụ thả giống chưa thích hợp, không kiểm soát được sự nở hoa của tảo và mật độ vi khuẩn, xử lý nước và sử dụng thức ăn không đúng kỹ thuật, lạm dụng chế phẩm sinh học.

Để phòng ngừa hội chứng EMS/AHPNS, theo TS Chalor Limsuwan, người nuôi nên dùng tôm giống PL12 hoặc lớn hơn, có chất lượng tốt; nên dùng hóa chất để xử lý nước; không dùng chế phẩm sinh học trong suốt tháng đầu thả nuôi. Ao nuôi cần duy trì pH 7,8-8,2; độ kiềm lớn hơn hoặc bằng 100mg/l (ppm), nồng độ ôxy hòa tan 4mg/l và duy trì màu nước suốt quá trình nuôi.
Thăm sàng ăn của tôm, nếu thấy một vài cá thể tôm có biểu hiện hội chứng EMS/AHPNS, người nuôi cần ngừng cho tôm ăn 2 - 3 ngày để giảm hoạt động hệ thống gan tụy của tôm, sau đó cho tôm ăn trở lại với liều lượng giảm tương ứng sức khỏe tôm nuôi. Cùng đó, người nuôi cần nâng pH để tôm giảm lột vỏ và duy trì sức khỏe tôm, đồng thời bổ sung khoáng chất để nâng sức đề kháng cho tôm.

Nguồn: www.thuysanvietnam.com.vn

Friday, April 5, 2013

Ảnh hưởng của Dipterex đến đời sống thủy sinh vật và con người

Dipterex là thuốc trừ sâu lân hữu cơ chứa hoạt chất Trichlorfon được sử dụng để diệt côn trùng như gián, rệp, bọ chét, ruồi, bọ ve, và rầy lá. Dipterex còn được sử dụng rộng rãi trong cây trồng và rau quả cũng như dùng diệt ký sinh trùng trong nuôi trồng thủy sản. Tuy nhiên, từ năm 2005, Dipterex đã được liệt vào danh mục những hóa chất kháng sinh bị cấm sử dụng theo Quyết định số 07/2005/QĐ-BTS ngày 24 tháng 2 năm 2005 của Bộ trưởng Bộ Thủy sản.


Cấu tạo và đặc tính của Dipterex

Dipterex là hợp chất hóa học có tên hóa học: 2,2,2-Trichloro-1-hydroxyethyl)phosphonic acid dimethyl ester(C4H8Cl3O4P). Khối lượng phân tử: 257,436 g/mol. Dipterex ở dạng tinh thể màu vàng trắng nhạt và có mùi ethyl ether. Các sản phẩm thương mại của Dipterex có nhiều tên khác nhau như: Anthon, Bovinos, Briten, Chlorophos, Ciclosom, Ditrifon, Dylox, Dyrex, Equino-Aid, Foschlor, Leivasom, Neguvon, Masoten, Pronto, Phoschlor, Proxol, Totalene, Trichlorophene, Trichlorophon, Trinex, Tugon and Vermicide Bayer 2349... Khi Dipterex được sử dụng ở dạng thuốc, thường được gọi là metrifonate hay metriphonate.

Dipterex hòa tan khá tốt trong nước (120g/L), ngoài ra còn có khả năng hòa tan trong các dung môi khác như: alcohols, ketones, dichloromethane, 2-propanol, methylene chloride and toluene. Khi hòa tan Dipterex vào nước, hơn 80% hoạt chất sẽ nhanh chóng chuyển hóa thành các hóa chất khác nhau trong đó Dichlorvos là một trong các hợp chất chủ yếu. Thời gian bán hủy (DT50) của trichlorfon trong nước ở nhiệt độ 25oC là 117 ngày ở pH=5, 38 giờ ở pH=7 và 31 phút ở pH=9. Hợp chất Dichlorvos cũng được sử dụng phổ biến và có các tên thương mại như: Dipterex, Apavap, Benfos, Cekusan, Cypona, Derriban, Derribante, Devikol, Didivane, Duo-Kill, Duravos, Elastrel, Fly-Bate, Fly-Die, Fly-Fighter, Herkol, Marvex, No-dịch hại, Prentox, Vaponite, Vapona, Verdican, Verdipor, và Verdisol. Cũng như Dipterex, Dichlorvos đã bị cấm sử dụng.

Sử dụng Dipterex trong nuôi trồng thủy sản

Trước đây, Dipterex được sử dụng như một loại hóa chất có hiệu quả trong nghề nuôi trồng thuỷ sản. Nó được sử dụng để diệt các loại ký sinh trùng có hại trong thủy sản. Dipterex có khả năng diệt côn trùng rất cao, chúng được sử dụng ở dạng bột, khối hay nhủ tương với hoạt chất dao động từ 40% đến 98%. Trong nuôi trồng thủy sản, Dipterex dùng để diệt giáp xác trong ao nuôi tôm, tẩy trùng ao nuôi và trị các bệnh do ký sinh trùng gây ra như: protozoa, trùng mỏ neo, rận cá... hay dùng để diệt các loại sán lá, các nội ký sinh. Nồng độ sử dụng phun xuống ao 0,1 ppm đối với Dipterex 50% hay 0,1-0,2 g/m3 đối với dạng bột.

Ảnh hưởng của Dipterex đối với đời sống thủy sinh vật

Dipterex rất độc đối với thủy sinh vật. Độ độc cấp tính của hoạt chất Trichlorfon (LC50 hoặc EC50) đối với những loài nhạy cảm (sensitive species) thường rất nhỏ, giá trị LC50 của một số loài động vật thủy sinh được minh họa qua Bảng sau:

LOÀI THỦY SINH VẬT
LC50 96 giờ (mg/L)
Cá Hồi nước ngọt (brook trout)
2,5
Cá Hồi vân
1,4
Cá da trơn
0,88
Tôm Crayfish
7,8
Côn trùng
0,01
Daphnia (trứng nước)
0,0

Dipterex cũng như các thuốc trừ sâu gốc lân khác, tác động lên cá làm biến đổi tế bào biểu mô của cơ quan hô hấp, thay đổi cấu trúc mang cá và làm giảm điều hòa áp suất thẩm thấu, làm thay đổi cấu trúc của các lá mang cá. Thêm vào đó, việc ức chế hoạt tính của enzyme Acethylcholinesterase (AchE) làm giảm khả năng bơi lội của cá dẫn đến làm giảm khả năng sử dụng hiệu quả thức ăn của cá. Nghiên cứu trên lươn (Anguilla anguilla) khi tiếp xúc với dichlorvos có sự giảm hoạt tính của engyme Glutathione. Cá rô phi (Oreochromis niloticus) sau 72 giờ tiếp xúc với dipterex ở nồng độ 0,25 ppm đã gây nên hiện tượng phù và xuất huyết đồng thời làm tăng hoạt tính của enzyme AChE ở cơ của cá. Đối với đa số các loài cá, khi cho tiếp xúc với dipterex hay dichlorvos, hoạt tính của engyme AchE và glutathione trên não bị ức chế, chứng tỏ hóa chất này có ảnh hưởng đến sức khỏe cá nuôi hay ít nhất là gây stres trên cá nuôi. Đối với tôm càng xanh khi cho tiếp xúcvới Dipterex, khả năng đáp ứng miễn dịch của tôm bị ức chế, khả năng kháng lại vi khuẩn Lactococcus garvieae bị giảm.

Ảnh hưởng của Dipterexđối với sức khỏe con người

Sau khi hóa chất tiếp xúc qua da trong vài phút hay kéo dài trong vài giờ, thuốc sẽ thấm qua da, đi vào máu và tác động đến chức năng thần kinh do ức chế enzyme cholinesterase. Một số triệu chứng gặp phải như buồn nôn, nôn mửa, tiêu chảy, đau bụng, nhức đầu, chóng mặt, đau mắt, mờ mắt, chảy nước mắt, đổ mồ hôi hay hôn mê. Bên cạnh đó, hóa chất này còn gây độc mãn tính đối với người sử dụng. Khi tiếp xúc nhiều với dipterex xuất hiện một số biểu hiện như: giảm trí nhớ, mất tập trung, mất phương hướng, trầm cảm, ác mộng, mộng du và buồn ngủ hoặc mất ngủ. Các biểu hiện khác như đau đầu, buồn nôn, suy nhược, chán ăn, và mệt mỏi. Ngoài ra, một số nghiên cứu cho thấy trichlorfon có khả năng gây đột biến gen, quái thai và biến dạng xương trên chuột (mice), chuột cống (rat) và chuột đồng (hamster).

Tóm lại, Dipterex rất độc cho sức khỏe của người và động vật. Trong nuôi trồng thủy sản, sử dụng hóa chất này thực sự nguy hiểm do ảnh hưởng đến sức khỏe cá nuôi cũng như sức khỏe của người sử dụng. Vì vậy, không nên sử dụng loại hóa chất này trong sản xuất nông nghiệp cũng như nuôi trồng thủy sản.

THS. TRẦN MINH PHÚ VÀ PGS.TS. ĐỖ THỊ THANH HƯƠNG, Khoa Thủy sản, ĐH CẦN THƠ
Nguồn: UV-Việt Nam

Quy trình nuôi tôm 3 pha để kiểm soát dịch bệnh gan tụy cấp tính trên tôm (Three phase farming protocol to reduce risks of AHPNS)

Trên cơ sở hiểu biết dịch bệnh gan tụy, với các nghiên cứu hiện nay đang tập trung mối nghi ngờ vào nguyên nhân chính gây bệnh gan tụy là bacteriophages cùng với quan sát thực tiễn ổ dịch và bản chất của dịch bệnh gan tụy, TS. Nguyễn Duy Hòa (Giám đốc bán hàng và hỗ trợ kỹ thuật của Công ty INVE Aquaculture) từ lâu đã đưa yếu tố tảo độc vào một trong các mối nghi ngờ gây hoại tử gan tụy cấp tính.


Sau khi gan tụy tôm bị tấn công bằng bacteriophagaes hoặc tảo độc thì hệ thống miễn dịch của tôm bị suy giảm làm cho các nhóm cơ hội như Vibrio sp. và Vi bào tử trùng dễ dàng tấn công làm chết tôm. Vì vậy, tôi đã xây dựng QUY TRÌNH NUÔI 3 PHA và các giải pháp kỹ thuật nhắm vào việc giải quyết các tác nhân và nguyên nhân làm bệnh gan tụy bùng phát từ đó giảm thiểu rủi ro cho người nuôi tôm. Quy trình này được triển khai tại Mỹ Thanh – Sóc Trăng ban đầu trên 7 ao nuôi trong đó Công ty INVE Aquaculture hỗ trợ 40% sản phẩm cho 06 ao nuôi và trong quá trình triển khai dựa trên các kết quả của 07 ao nuôi đầu tiên chủ trại nuôi đã mở rộng lên 28 ao nuôi. Đến nay đã có 7 ao đạt 84 ngày nuôi (thời điểm 78 ngày nuôi cân trọng lượng trung bình tôm đạt 16 đến 18 g); 7 ao đạt 70 ngày nuôi (thời điểm 60 ngày nuôi cân đạt trọng lượng trung bình 11 đến 12g), 14 ao nuôi còn lại hiện nay đạt trên 40 ngày nuôi với trình trạng sức khỏe tôm rất tốt.

Giải pháp kỹ thuật tập trung vào giải quyết các nhóm tác nhân chính (độc tố tảo và bacteriophages) và tác nhân nhân cơ hội (Vibrio sp. và Vi bào tử trùng). Quan trọng nhất là việc lựa chọn các sản phẩm sinh học và dinh dưỡng để giải quyết triệt để các tác nhân chính và cơ hội của dịch bệnh gan tụy trên tôm. Tôi được may mắn làm cho Tập đoàn INVE Aquaculture là tập đoàn uy tín vì có nhiều sản phẩm chất lượng cao phục vụ cho nghề nuôi thủy sản, đặc biệt trong lĩnh vực giống thủy sản và hiện nay Tập đoàn INVE Aquaculture đang phát triển các sản phẩm chủ lực phục vụ cho nghề nuôi tôm thịt. May mắn hơn nữa là Tập đoàn INVE Aquaculture họ luôn để cho chúng tôi chủ động thực hiện các ý tưởng sáng tạo của mình nhờ vậy sự thành công mô hình đã nhanh chóng hơn sự mong đợi của tôi. Xin cảm ơn TS. Olivier, anh Rudi và chị Tiên đã tạo điều kiện cho tôi thực hiện mô hình này vớt tất cả các ý tưởng của tôi.

Quy trình nuôi 3 pha bao gồm:

Pha 1: từ ngày chuẩn bị ao (2 tuần) đến ngày 35 (tổng cộng khoảng 50 ngày)

Pha này tập trung phát triển các loài tảo có lợi (green algaes and diatoms) tức là phát triển hệ thống Quang tự dưỡng trong ao (photoautotrophic system) nuôi theo hướng chọn lọc các loài tảo có lợi cho tôm (pha này chủ yếu 70-80% hệ sinh vật Quang tự dưỡng – Photoautotrophic system và khoảng 20-30% là hệ sinh vật dị dưỡng – Heterotrophic system).

Pha 2: từ ngày nuôi 35 đến ngày nuôi 45, quy trình nuôi của tôi chuyển dần sang Hệ sinh vật dị dưỡng (khoảng 50% là hệ Quang tự dưỡng và 50% Hệ dị dưỡng).

Pha 3: sau 45 ngày nuôi chuyển dần qua chủ lực là hệ sinh vật dị dưỡng Heterotrophic bacteria chiếm 70-80% trong ao nuôi và chỉ khoảng 20% trong ao nuôi là hệ Quang tự dưỡng.

(Chú ý Quy trình này hầu như loại bỏ hoàn toàn hệ sinh vật tự dưỡng Autotrophic bacteria)

Về mặt kỹ thuật Quy trình này tập trung giải quyết:

Giải quyết nguồn tảo độc trong ao (kiểm soát tỉ lệ N:P)
Giải quyết bacteriophages và Vibrio sp. trong ao (Kiểm soát tỉ lệ C:N)
Giải quyết nguy cơ Vi bào tử trùng tronng ao (xử lý đáy ao)
Tăng cường hệ thống miễn dịch cho tôm (bổ sung dinh dưỡng và vi sinh đường ruột).

QUY TRÌNH NUÔI TÔM 3 PHA SỬ DỤNG SẢN PHẨM CÔNG TY INVE AQUACULTURE
GIẢM THIỂU NGUY CƠ DỊCH BỆNH GAN TỤY CẤP TÍNH CỦA TÔM THẺ CHÂN TRẮNG


Chuẩn bị ao nuôi

Dùng sản phẩm Sanocare-PUR là sản phẩm triệt trùng hiệu quả của Công ty INVE Aquaculture nhờ hủy được màng sinh học của vi khuẩn (Biofilm) pha ở nồng độ 1% (1 Kg cho 100 lít nước) xịt đều bờ ao, đáy ao và phơi 72 giờ. Sau đó, lấy nước từ ao lắng vào ao nuôi qua vào lưới lọc mịn < 120 µm hoặc lọc qua 2 lới vải Ka tê rồi để lắng nước 72 giờ, sau đó có thể dùng Chlorine chất lượng (của Nhật) xử lý nước ở nồng độ 40 ppm hoặc dùng TCCA (ở liều 10 đến 15 ppm) và 24-48 giờ sau mới tiến hành gây màu nước bằng các sản phẩm điều chỉnh pH, nâng Kiềm, phân bón hữu cơ (thức ăn viên cho gà hoặc thức ăn tôm, đậu nành), và đặc biệt sản phẩm Sanolife-Nutrilake của Công ty INVE Aquaculture (3,5-4 Kg cho 1,000 m3 nước đánh 1 tuần 1 lần trong giai đoạn chuẩn bị ao cũng như đến khi nuôi được 45 ngày, sau đó định kỳ 10-15 ngày 1 lần dùng cùng liều lượng cho đến khi thu hoạch) đây là sản phẩm nhằm cung cấp khoáng sinh học (NaNO3, Silic,….) cho ao và kích thích hệ tảo khuê phát triển trong ao ở mức tốt nhất, đồng thời phóng thích oxi đáy làm gia tăng tiềm năng oxi hóa khử ở đáy ao nuôi giúp khoáng hóa và làm sạch đáy ao. Ngoài ra, Nutrilake sẽ tác động bổ trợ cho nhóm vi sinh vật dị dưỡng hiếu khí có mặt trong Pro-W để khử khí độc Ammonia, Nitrite và H2S. Vì vậy, sản phẩm Nutrilake được gọi là sản phẩm 3 trong 1 (kích thích tảo khuê phát triển, khoáng hóa làm sạch đáy ao, khử khí độc đáy ao). Khi ao bắt đầu lên màu hơi đậm thì dùng sản phẩm Sanolife-Pro-W là sản phẩm vi sinh xử lý đáy ao nuôi và cắt bớt tảo khi mật độ tảo quá dày nhằm kiểm soát tảo ở mật độ thích hợp nhất – đây là sản phẩm chủ lực chứa các nguồn vi sinh có lợi tiết các enzymes xử lý chất thải đáy ao được bón 2 lần trong quá trình chuẩn bị ao (150g cho 10,000 m3 nước) và cùng với Sanolife-Nutrilake kiểm soát mật độ tảo tốt nhất - Việc kiểm soát mật độ tảo phát triển cao vừa phải là một trong các mấu chốt của nghề nuôi tôm (nếu tảo có mật độ quá cao sẽ làm pH trong ngày biến động nhiều làm ảnh hưởng đến nhiều chỉ tiêu khác của ao nuôi).

Thả giống và chăm sóc bằng các sản phẩm của Công ty INVE Aquaculture

Một ngày trước khi thả giống dùng sản phẩm Sanocare-PUR ở liều lượng 0,8 ppm (800 g tức 1 hộp Sanocare-PUR cho 1.000 m3 nước) nhằm loại bỏ hết nguồn Vibrio tái phát trong quá trình gây màu cho ao nuôi – sau đó 48 giờ thì dùng sản phẩm Sanolife Pro-W ở liều 200 g cho 10.000 m3 (cho ao 6.000m2 có độ sâu 1,6m) - đặc biệt lợi điểm của sản phẩm Sanocare-PUR là chỉ diệt khuẩn mà không làm rớt tảo ngay cả khi nồng độ xử lý khuẩn 4ppm vẫn không làm rớt tảo, tuy nhiên do diệt khuẩn nên đồng thời diệt các vi snh có lợi trong ao vì vậy 48 giờ sau khi xử lý PUR phải cấy lại vi sinh Pro-W.

Từ ngày thả nuôi 1 đến ngày 45 dùng sản phẩm Sanolife-Nutrilake mỗi tuần 1 lần ở liều lượng 4 Kg cho 1.000 m3 khối nước nhằm kiểm soát tỉ lệ N:P ở mức 25:0,5-1 (25 N và 0,5-1 P), sau đo10-15 ngày 1 lần cùng liều lượng cho đến khi thu hoạch. Sản phẩm vi sinh xử lý đáy Sanolife Pro-W được dùng 10 ngày 1 lần ở liều 100g cho 10.000 m3 nước ở tháng đầu tiên, sau đó dùng 1 tuần 1 lần ở liều 200g cho 10.000m3 cho đến khi thu hoạch.

Sản phẩm Sanolife AFM là sản phẩm chiết xuất từ cây Yuca nhằm xử lý ammonia từ 45 ngày trở đi với liều dùng 1 lít cho 3.000 đến 5.000m3 và định kỳ 20 ngày 1 lần nhằm kiểm soát ammonia cũng như làm đẹp màu nước (giảm đục, giảm đậm màu), đặc biệt có thể phối hợp với Pro-W khi cắt tảo sẽ hiệu quả vì nó giúp loại bỏ bớt đạm ammonium là nguồn dinh dưỡng cho tảo (đánh AFM trước rồi đánh Pro-W và Nutrilake).

Sản phẩm tăng cường hệ thống miễn dịch và sức khỏe cho tôm bao gồm:

Sanolife Pro-2 là sản phẩm vi sinh đường ruột được trộn hàng ngày ở liều 5 g cho 1 Kg thức ăn cho đến ngày nuôi 30, sau đó giảm còn 3g cho 1 Kg cho đến khi thu hoạch. Sanolife Pro-2 gồm các chủng vi sinh có lợi tiết ra a xít hữu cơ tự nhiên giúp giảm pH đường ruột nhằm ức chế Vibrio sp phát triển, đồng thời có các chủng vi sinh gia tăng hấp thu các thức ăn đã được tiêu hóa.

Sản phẩm Sanoguard Top-S là sản phẩm bao gồm các chất tăng cường hệ thống miễn dịch cho tôm (chẳng hạn β-glucans, các Vitamin, Selenium, Nucleotic acids, Carotennoids,……). Sản phẩm này được trộn thức ăn ở liều 10g cho 1 Kg thức ăn ở 30 ngày ngày đầu, sau đó trộn 5g cho 1 Kg thức cho đến khi thu hoạch.

Điều chỉnh các pha nuôi

Các pha nuôi của quy trình (Photoautotrphic system và Heterotrophic system) được điều chỉnh thông qua 3 sản phẩm chủ lực Sanolife-Nutrilake, Sanolife Pro-W và rỉ đường (Mollasses). Việc điều chỉnh 3 pha nuôi tùy theo điều kiện cụ thể khi theo dõi ao để tính toán lượng rĩ đường, lượng Sanolife-Nutrilake và Sanolife-ProW thích hợp.

Sự thành công của quy trình nuôi này đang được bà con nông dân ở Sóc Trăng và Bến Tre quan tâm. Sắp tới tôi sẽ xây dựng và phát triển quy trình nuôi Bioflocs đầy đủ (Full Bioflocs) ở Sóc Trăng và hy vọng công nghệ Bioflocs này sẽ góp phần hơn nữa việc giảm thiểu rủi ro dịch bệnh gan tụy cấp tính trên tôm hiện nay.

Quy trình này được phát triển bởi TS. Nguyễn Duy Hòa, BS. Nguyễn Trọng Nhi và anh Đinh Ngọc Thành ở Mỹ Thanh – Sóc Trăng.

Nguồn: http://contom.com.vn/

Monday, April 1, 2013

Khí carbonic trong ao nuôi thủy sản

Nguồn khí carbonic (CO2) trong ao nuôi thủy sản chủ yếu sinh ra từ hoạt động hô hấp của sinh vật và tảo, ngoài ra quá trình phân giải chất hữu cơ cũng tạo ra khí carbonic đáng kể. Người nuôi chủ yếu quan tâm việc quản lý hàm lượng oxi hòa tan trong khi khía cạnh các yếu tố cân bằng oxi là khá quan trọng.


Ban ngày, sự quang hợp của tảo và các thực vật khác trong ao sản sinh ra oxi hòa tan trong khi ban đêm quá trình quang hợp bị ngưng thì quá trình hô hấp diễn ra và tảo cũng như các sinh vật sẽ tiêu thụ oxi hòa tan về đêm và thải ra khí carbonic. Vì vậy, biến động ngày đêm của oxi hòa tan là ngược chiều với khí carbonic: ban ngày tảo sẽ lấy carbon từ khí carbonic nên hàm lượng khí carbonic giảm thấp vào ban ngày (gần về 0 mg/l) trong khi ban đêm quá trình hôp hấp sản sinh khí carbonic và đẩy nhanh lượng khí carbonic về đêm (10 đến 15 mg/l).

Khí carbonic có thể gây độc cho sinh vật và có liên quan mật thiết đến biến động hàm lượng ngày đêm của cả oxi hòa tan và khí carbonic. Khí carbonic đạt giá trị cao nhất vào thời điểm oxi hòa tan thấp nhất, vì vậy vào lúc gần sáng sớm là thời điểm cần lưu ý đến độ độc khí carbonic, hơn nữa độ độc của khí carbonic gia tăng khi oxi hòa tan thấp nhất. Cá có thể loại bỏ khí carbonic qua mang nhằm đối phó với sự mất cân bằng của khí carbonic môi trường ngoài và khí carbonic trong máu cá. Tuy nhiên, khi hàm lượng khí carbonic môi trường quá cao so với trong máu cá thì cá khó làm giảm khí carbonic trong máu và làm tích lũy carbonic trong máu hơn. Khi hàm lượng khí carbonic trong máu tăng cao làm giảm khả năng của hemoglobin là phân tử vận chuyển oxi của máu kết quả gây sốc cá.

Mật độ tảo là yếu tố hết sức quan trọng trong việc kiểm soát mối quan hệ oxi hòa tan và khí carbonic trong ngày đêm. Lượng tảo càng dày thì khác biệt và biến động ngày đêm giữa oxi hòa tan và khí carbonic càng lớn. Ngoài ra, mùa hè nhiệt độ nước càng cao càng đẩy nhanh quá trình phân giải hữu cơ cũng như gia tăng quá trình trao đổi chất của sinh vật trong ao đưa đến việc tiêu thụ oxi hòa tan càng nhiều và sản sinh ra khí carbonic càng nhiều vì vậy vào mùa hè vấn đề độc của khí carbonic càng trầm trọng.

Đo pH và Kiềm để ước tính khí Carbonic trong ao

Khí carbonic trong ao có thể đo trực tiếp nếu sử dụng test kit nhưng cũng có thể ước tính thông qua giá trị pH bởi vì Carbonic càng nhiều càng làm cho nước ao a xít hóa làm giảm pH (ngược lại ban ngày khí Carbonic bị tiêu thụ bởi tảo sẽ làm cho pH của nước tăng lên). Có mối quan hệ nội tại quan trọng giữa pH, Kiềm và khí Carbonic. Biết được pH và Kiềm sẽ cho phép ước tính lượng khí Carbonic trong ao, tuy nhiên cần phải đo pH và kiềm chính xác. Phương pháp ước tính đơn giản sử dụng Biểu đồ chuẩn (Biểu đồ chuẩn ở Hình 2) có sẳn như sau (Biểu đồ này có thể photocopy ra và sử dụng cho trại nuôi):

Hình 1. Biến động ngày đêm của oxi hòa tan và khí carbonic

(Chú giải: Dissolved oxygen: oxi hòa tan; Carbon dioxide: Khí carbonic; Dawn: Sáng sớm; Midday: giữa ngày; Dusk: chiều tối; midnight: giữa đêm; Concentration: hàm lượng đo được ngày đêm)

Bước 1: Xác định tổng độ kiềm của nước ao sử dụng test kit và xác định giá trị pH của nước khi lấy mẫu nước không để xì bọt khí. Vẽ đường thẳng đứng từ giá trị pH trên trục X cắt các đường cong biểu thị giá trị độ kiềm trong Biểu đồ chuẩn (Hình 3).

Bước 2: Từ các điểm cắt của đường thẳng đứng vẽ từ giá trị pH ở trục hoành X với các đường cong của giá trị Kiềm ta sẽ vẽ đường thẳng đi về bên trái cắt giá trị trục trung Y ở đâu thì đó chính là giá trị hàm lượng khí Carbonic sẽ gây độc khi pH ở dưới mức giá trị pH xuất phát điểm vẽ trên trục hoành X (Hình 3).


Hình 2. Biểu đồ chuẩn để xác định giá trị gây độc khí Carbonic trong ao
Hình 3. Cách xác định giá trị khí Carbonic gây độc (Chú giải: Step 1: Bước 1; Step 2: Bước 2)

Ngoài ra phương pháp “quick and dirty” có thể giúp đánh giá tiềm năng độc của khí Carbonic như sau: lấy một sô nước ao và đo pH, sau đó đặt đá bọt sục khí vào sô nước và cho sục khí khoảng 30 phút rồi đo lại pH và nếu giá trị pH tăng hơn 1 đơn vị thì khí Carbonic trong ao đang ở mức gây độc.

Thông thường trong ao nuôi có độ Kiềm cao vừa phải thì vấn đề độc của khí Carbonic không phải quan tâm vì độ kiềm có tác dụng làm hệ đệm cho pH không bị biến động nhiều. Thường độc tính của khí Carbonic chỉ lớn khi tảo bị tàn hoặc sau khi dùng hóa chất diệt tảo vì khi đó tảo chết là nguồn hữu cơ lớn khi bị phân giải sẽ tiêu hao oxi hòa tan và sản sinh khí Carbonic. Giải pháp tăng sục khí và đảo trộn nước để gia tăng oxi hòa tan và loại bỏ khí Carbonic ra khỏi nước trong những trường hợp tảo tàn là cần thiết và giải pháp có tính căn cơ vì các giải pháp bón vôi chỉ là tạm thời và chỉ có vôi nung (CaO) và vôi tôi (Ca(OH)2) hoặc Sodium Carbonate (Na2CO3) mới có tác dụng loại bỏ Carbonic trong khi vôi nông nghiệp không loại bỏ được khí Carbonic.

TS. Nguyễn Duy Hòa dịch - Nguồn (Jhon Hargreaves và Martin Brunson – Nhà xuất bản SRAC: Trung Tâm Nuôi Trồng Thủy Sản Phía Nam)
http://contom.com.vn

Chất lượng nước nuôi tôm thẻ chân trắng

Bài viết dưới đây giới thiệu các chỉ tiêu chất lượng nước cần theo dõi trong ao nuôi tôm thẻ chân trắng - được dịch từ Sổ tay nuôi tôm thẻ chân trắng của Hawaii - Mỹ.

Các chỉ tiêu chất lượng nước và khoảng cho phép đối với nuôi thương phẩm tôm thẻ chân trắng:


Các yếu tố chất lượng nướcKhoảng đề nghị cho phép
Nhiệt độ28 – 32 oC
Oxy hòa tan5,0 – 9,0 ppm
Khí Carbonic CO2≤ 20 ppm
pH7,0-8,3
Độ mặn0,5 – 35 ppt
Chloride≥ 300 ppm
Sodium (Na+)≥  200 ppm
Tổng độ cứng (CaCO3)≥  150 ppm
Độ cứng canxi (CaCO3)≥  100 ppm
Độ cứng Magiê (CaCO3)≥  50 ppm
Tổng độ kiềm≥  100 ppm
Ammonia dạng độc (NH3)≤ 0,03 ppm
Nitrite (NO2-)≤ 1 ppm
Nitrate (NO3-)≤ 60 ppm
Tổng sắt≤ 1 ppm
Khí H2S≤ 2 ppb
Chlorine≤ 10 ppb
Cadmium≤ 10 ppb
Chromium≤ 100 ppb
Copper (Đồng)≤ 25 ppb
Lead≤ 100 ppb
Mercury≤ 0,1 ppb
Zinc≤ 100 ppb

Tác giả bài viết: TS. Nguyễn Duy Hòa dịch
Nguồn tin: Sổ tay nuôi tôm thẻ chân trắng - Hawaii

Các trường hợp gây trắng hay đục cơ ở Tôm chân trắng

Khác với tôm sú, tôm thẻ chân trắng thường xảy ra hiện tượng đục cơ. Sau đây là các trường hợp gây đục cơ và những giải pháp khắc phục khi nuôi tôm chân trắng.

1. Đục cơ kết hợp với cong thân

Trường hợp này thường xảy ra khi nhấc nhá (sàn, vó) lên khỏi mặt nước vào ban ngày, khi nhiệt độ rất nóng. Tôm nhảy lên và búng mạnh, rồi sau đó một số con bị cong thân. Đuôi uốn cong chạm đến phần giáp ngực, cùng lúc đó mô cơ chạy dọc theo phần giữa cơ thể sẽ trở nên trắng đục. Sau khi được thả trở lại ao, tất cả tôm cong thân đều sẽ chết vì không có khả năng tự duỗi thẳng. Tương tự, khi chài tôm kiểm tra lúc nắng nóng, tôm cũng trắng cơ và cong thân. Cách tốt nhất để hạn chế là không nhấc nhá lên khỏi mặt nước hoặc sử dụng chài để kiểm tra tôm khi thời tiết nắng nóng.

Hiện tượng này đôi khi cũng xảy ra khi tắt toàn bộ quạt nước lúc cho tôm ăn rồi bật quạt chạy trở lại. Việc các dàn quạt hoạt động trở lại có thể khiến tôm "giật mình" và nhiều con nhảy lên mặt nước tạo thành "làn sóng" chạy dọc theo ao. Hiện tượng này thường xảy ra vào lúc khuya, một vài con bị cong thân khi tiếp xúc với không khí và chuyển sang trắng cơ. Thường thì người nuôi không chú ý đến hiện tượng này và đến ngày hôm sau mới phát hiện có tôm chết ở trong ao. Vấn đề này thường xảy ra khi thời tiết có nhiệt độ cao và trong ao có nhiều loài tảo giáp phát triển. Mật độ tảo giáp cao làm cho nước có màu nâu đỏ và tôm yếu đi. Cách tốt nhất để tôm không nhảy lên mặt nước do bị sốc vì bật lại máy quạt nước là khi tôm đạt kích cỡ 10 gram/con hoặc lớn hơn thì người nuôi nên duy trì hoạt động của một vài dàn quạt, thậm chí trong lúc cho tôm ăn.

2. Đục cơ do trong quá trình vận chuyển hoặc sang ao


Khi kéo lưới để bắt tôm cho mục đích thu tỉa hay sang ao, một số tôm sẽ bị stress và một phần hay toàn bộ cơ thịt của nó sẽ bị trắng đục, hoặc thỉnh thoảng có sự pha lẫn giữa màu trắng và màu tối khác thường như màu cam hoặc màu đỏ hồng. Hầu hết tôm có màu khác thường này sẽ chết. Những con khác bị nhẹ nếu có hồi phục thì cũng mất vài ngày màu sắc cơ thể mới trở lại bình thường. Biện pháp tốt nhất là phải kiểm tra sức khoẻ tôm trước khi di chuyển sang ao mới. Nếu tôm khoẻ mạnh thì nó có thể chịu đựng được stress. Nếu người nuôi bắt đầu chuyển tôm và phát hiện thấy một vài con chuyển sang trắng đục thì nên hoãn lại. Nước dùng vận chuyển tôm phải có nhiệt độ 24 - 25oC và hàm lượng oxy phải cao.

3. Đục cơ do hàm lượng oxy thấp

Lượng oxy trong nước ao nuôi sẽ thấp nếu như không lắp đủ các dàn quạt nước tương ứng với số tôm trong ao. Theo kinh nghiệm, mỗi mã lực điện (HP) máy quạt nước thì sẽ cung cấp đủ oxy cho 400 - 500 kg tôm chân trắng. Người nuôi nên tính số lượng dàn quạt nước vừa đủ cung cấp oxy cho lượng tôm có trong ao. Ngoài ra, vị trí đặt dàn quạt nước cũng rất quan trọng, lắp đặt các dàn quạt nước đúng vị trí sẽ tạo được dòng chảy cuốn chất thải vào giữa ao, làm cho đáy ao luôn sạch, đồng thời làm cho oxy được khuyếch tán vào mọi nơi trong ao, đặc biệt là giữa ao, nơi diễn ra sự phân huỷ các chất hữu cơ được tích tụ từ xác tảo tàn và thức ăn dư thừa. Quá trình phân huỷ các chất hữu cơ tăng lên trong suốt vụ nuôi và đây là nguyên nhân làm lượng oxy trong nước giảm xuống thấp. Chất thải hữu cơ tích tụ trong ao sẽ được vi sinh phân huỷ và hoạt động sống của chúng cần lượng lớn oxy. Khi trời có nhiều mây mù hoặc mưa trong vài ngày liên tục, tảo sẽ không thể quang hợp tốt và sẽ không tạo ra nhiều oxy. Trong khi đó, mọi sinh vật sống trong ao bao gồm tôm, tảo và vi sinh vật đều sử dụng oxy. Oxy hoà tan trong nước không đều và rất thấp ở giữa ao, đặc biệt là những ao không có sự trao đổi nước thường xuyên và thả tôm mật độ cao. Khi có nhiều tôm, người nuôi phải cung cấp nhiều thức ăn và màu nước ao sẽ đậm vì tảo phát triển dày đặc.

Nếu oxy trong ao tôm từ 4 ppm trở lên, cơ thể tôm chân trắng có màu sáng bình thường. Nhưng trong những ao nuôi mật độ cao và oxy hòa tan thấp, thì tôm sẽ bị stress và cơ thể sẽ có xu hướng chuyển thành màu trắng hay mờ đục. Khi hàm lượng oxy xuống thấp 1,7 ppm thì tôm sẽ bơi lên mặt nước (tôm nổi đầu) và hầu hết sẽ chết khi lột xác. Hiện tượng này cũng đã được chứng minh ở phòng thí nghiệm Aquaculture Business Research Center của Đại học Kasetsart, Thái Lan. Tôm được nuôi trong bể kính có sục khí đầy đủ. Khi tắt máy sục khí, oxy trong nước giảm và kéo theo hoạt động của tôm giảm. Tôm không bơi lội nhiều và thường có khuynh hướng xuống gần đáy bể. Tôm sẽ không chết hoặc bơi lờ đờ lên mặt nước kể cả khi oxy trong nước thấp hơn 1 ppm. Tuy nhiên, khi hàm lượng oxy xuống thấp hơn thì hầu hết tôm có dấu hiệu mô cơ trở nên trắng đục. Một số con chỉ trắng tại phần gốc của các chân bơi.

4. Đục cơ do bệnh

Ngoài những trường hợp trên, tôm còn có thể đục cơ do bệnh lý. Ở vùng nuôi có độ mặn tương đối cao (25 - 35‰), tôm chuyển sang trắng đục ở một số bộ phận trên cơ thể, nhưng nguyên nhân không phải do stress mà thường do vi bào tử trùng (Microsporidian). Ngoài ra, tôm nhiễm virus (IMNV - Infectiuos Myonecrosis Virus) cũng có thể chuyển sang trắng đục. Các điểm hoại tử nhỏ bắt đầu ở phần đuôi rồi sau đó lan dần ra toàn thân. Tỷ lệ chết tích lũy khá cao, khoảng 40 - 70%. Cho đến nay vẫn chưa có biện pháp chữa trị mà chủ yếu vẫn áp dụng các biện pháp phòng bệnh tổng hợp như không dùng tôm bố mẹ nhiễm bệnh trong các trại giống, loại bỏ những tôm bệnh ra khỏi ao nuôi và làm tốt công tác cải tạo ao.

Tác giả bài viết: GSTS. Chalor Limsuwan, Đại học Kasetsart, Thái Lan
Tạp chí Thực hành Thủy sản Châu Á, số 2, tháng 04 - 06/2011
Nguồn: http://contom.com.vn

Tuesday, March 26, 2013

Kháng sinh nhóm Flouroquinolone và những điều cần lưu ý

Kể từ khi chất có tính kháng khuẩn được phát hiện (Alexander Fleming phát hiện ra penicillin từ nấm penicillium năm 1928 và hơn 10 năm sau thì kháng sinh đầu tiên được đưa vào sử dụng) cho đến nay nhiều loại kháng sinh đã được đưa vào sử dụng và kháng sinh đã và đang đóng một vai trò rất quan trọng trong đời sống của con người.

Để việc sử dụng kháng sinh được hiệu quả hơn, an toàn hơn và tránh những tác hại của nó thì chúng ta cần hiểu rõ về cơ chế tác động, tác dụng và tác hại của kháng sinh. Câu hỏi đặt ra là tại sao có loại kháng sinh bị đưa vào danh mục hạn chế sử dụng, có loại kháng sinh bị cấm sử dụng?

Trong Thông tư số15/2009/TT-BNN do Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn ban hành ngày 17 tháng 3 năm 2009 (thay thế Quyết định số 07/2005/QĐ-BTS ban hành ngày 24/02/2005 và Quyết định số 26/2005/QĐ-BTS ban hành ngày 18/08/2005): Cấm sử dụng nhóm fluoroquinolone trong sản xuất, kinh doanh thủy sản xuất khẩu vào thị trường Mỹ và Bắc Mỹ; cấm sử dụng enrofloxacin, ciprofloxacin, ofloxacin trong Thú y; hạn chế sử dụng enrofloxacin, ciprofloxacin (dư lượng tối đa 100 ppb).

Mới đây, trong Thông tư số 03/2012/TT-BNNPTNT ban hành ngày 16/01/2012 đã đưa enrofloxacin vào Danh mục hoá chất, kháng sinh cấm sử dụng trong sản xuất, kinh doanh Thuỷ sản.

Fluoroquinolone là nhóm kháng sinh nhân tạo, được fluor hóa từ quinolone. Tạisao kháng sinh nhóm fluoroquinolone bị hạn chế và cấm sử dụng trong khi các kháng sinh này (enrofloxacin) đang được sử dụng rất rộng rãi và hiệu quả. Để trả lời cho câu hỏi này, chúng ta tiến hành tìm hiểu về kháng sinh nhóm fluoroquinolone, những đặt điểm và tác dụng của nó.

Quinolone(flumequin, norfloxacin, enrofloxacin, ciprofloxacin, difloxacin, marbofloxacin, ofloxacin...) là nhóm kháng sinh nhân tạo gồm những dẫn xuất của quinolein. Quinolone đầu tiên (acid nalidixic) có phổ kháng khuẩn hẹp (tác dụng trên vi khuẩn Gram âm), được sử dụng vào những năm 1960. Quinolone được fluor hóa gọi là fluoroquinolone đã được đưa vào sử dụng trong lâm sàng vào những năm 1970. Fluoroquinolone có phổ kháng khuẩn rộng, tác dụng trên cả vi khuẩn Gram âm và Gram dương. Kháng sinh nhóm này phân bố đồng đều cả trong dịch nội và ngoại bào, phân bố hầu hết các cơ quan: phổi, gan, mật, xương, tiền liệt tuyến, tử cung, dịch não tủy... và qua được hàng rào nhau thai. Fluoroquinolone bài thải chủ yếu qua đường tiết niệu ở dạng còn nguyên hoạt chất và tái hấp thu thụ động ở thận.

Trongcác cơ chế tác động của kháng sinh lên vi khuẩn thì cơ chế tác động của fluoroquinolone là ức chế tổng hợp acid nucleic. Sự nhân đôi DNA bắt đầu bằng phản ứng tách chuỗi DNA ra làm hai, mỗi bên là một khuôn để gắn nucleotid thích hợp theo nguyên tắt bổ sung. Enzyme DNA polymerase xúc tác sự tổng hợp các liên kết giữa các nucleotid; enzyme DNA gyrase nối các DNA trong quá trình tổng hợp và tạo thành các vòng xoắn. Quinolone (acid nalidixic và các fluoroquinolone) ức chế mạnh sự tổng hợp DNA trong giai đoạn nhân đôi do ức chế enzyme DNA gyrase. Cơ chế tác động này hiệu quả trên cả vi khuẩn Gram dương và Gram âm. Nhưng cũng có thể do cơ chế ức chế tổng hợp acid nucleic này mà kháng sinh nhóm fluoroquinolone được cho là có nguy cơ gây đột biến gene, gây sẩy thai khi sử dụng cho động vật mang thai, và khuyến cáo là không nên dụng kháng sinh nhóm fluoroquinolone cho động vật mang thai, động vật sinh sản và làm giống.

Ngoài ra, sử dụng kháng sinh nhóm fluoroquinolone có thể gây rối loạn phát triển xương, sụn (gót asin ở người). Nguyên nhân có thể do kháng sinh nhóm fluoroquinolone có tính bẩy bắt các ion hóa trị II (Mg2+). Theo nghiên cứu của Jason et al. (2010) trên cừu non đã cho thấy kháng sinh nhóm fluoroquinolone đã gây tác động lớn, làm cho hệ xương, sụn hầu như không phát triển trong thời gian sử dụng kháng sinh nhóm này. Trước đây, vào những năm 1977, 1978 đã có các nghiên cứu về việc ảnh hưởng đến sự phát triển xương, sụn của thú non (chó Beagle, cừu) khi sử dụng kháng sinh nhóm fluoroquinolone (Ingham et al., 1977; Tatsumi et al., 1978). Nhưng do hiệu quả điều trị và mức độ cần thiết của các kháng sinh nhóm kháng sinh này mà người ta đã bỏ qua tác hại của nó.

Bên cạnh đó, sự tồn lưu thời gian dài sau khi sử dụng thuốc kháng sinh nhóm fluoroquinolone cũng là nguyên nhân dẫn đến việc hạn chế và cấm sử dụng những kháng sinh thuộc nhóm này. Ở Mỹ, cơ quan quản lý thực phẩm và dược phẩm của Mỹ (FDA: Food and Drug Administration) đã không chấp nhận sự tồn lưu kháng sinh nhóm fluoroquinolone trong sản phẩm thủy sản. Ở châu Âu, EU đã thiết lập giới hạn lớn nhất (MRLs) đối với dư lượng thuốc trong thực phẩm cung cấp cho con người vào những năm 1990. Trong “Council directive 96/23/EC in 1996” đã quy định rõ là enrofloxacin trong cơ, gan, thận của bò, lợn, gia cầm (gà, vịt) là 30µg/kg; trong sữa bò là 100 µg/kg. Ở Việt Nam cũng đã có nhiều nghiên cứu về sự tồn lưu kháng sinh nhóm fluoroquinolone trong thực phẩm nói chung và sản phẩm thủy sản nói riêng (Trần Minh Phú et al., 2008; Phạm Minh Đăng et al., 2008…). Theo Trần Minh Phú et al. (2008), bằng phương pháp sắc ký lỏng đã xác định sự tồn lưu của enrofloxacin trong thịt của cá tra nuôi. Cụ thể là cá ăn thức ăn có enrofloxacin với hàm lượng 10,6 mg/kg thức ăn trong 7 ngày, tồn dư kháng sinh trong cá là 2.796 ± 482 µg/kg. Sau 60 ngày ngừng cho ăn kháng sinh, tồn dư kháng sinh trong cá là 97,9 ± 66,5 µg/kg, cao hơn quy định của châu Âu. Như vậy, có thể nói kháng sinh enrofloxacin có sự tồn lưu lớn, lâu sau khi sử dụng và ảnh hưởng không tốt đến nguồn thực phẩm của chúng ta.

Với các nguyên nhân nêu trên cho thấy việc đưa kháng sinh nhóm fluoroquinolone vào danh mục cấm sử dụng và hạn chế sử dụng là một điều cần thiết và có tính cấp bách. Vấn đề ở đây là chúng ta biết tác hại của nó để hạn chế và không sử dụng nó một cách tự nguyện trong nuôi trồng thủy sản.

THS. NGUYỄN THANH TÙNG, CÔNG TY UV VIỆT NAM